Ở đó, màu áo lính không chỉ là một sự lựa chọn nghề nghiệp mà còn là “huyết mạch” được trao truyền. Những người mẹ vốn là vợ lính, là lính nay tiếp tục là mẹ của những người lính biển, đang lặng lẽ dệt sợi dây truyền thống, giữ ngọn lửa hậu phương luôn hồng giữa những cơn sóng dữ.
Một đời lặng thầm làm nên điểm tựa
Đại tá hải quân Đặng Huy Hùng (quê Thanh Hóa) nhớ mãi ngày 3/2/1988. Hôm đó, là thượng úy, Chính trị viên phó tàu HQ81, ông rời đất liền đi Trường Sa. Ông không biết chuyến đi đó sẽ kéo dài 95 ngày. 38 năm sau, 3/2/2026, con trai ông - thiếu tá Đặng Huy Dũng, Lữ đoàn 161, Vùng 3 Hải quân - cũng xa khơi làm nhiệm vụ dài ngày. 38 năm, ngày 3/2 luôn là dấu mốc trong ký ức ông.
95 ngày trên biển, có những ngày sóng to đến mức đồ ăn trên bàn cứ “chạy”, anh em nằm một chỗ không ăn nổi cơm, chỉ húp mì tôm khi sóng dịu. Rồi đêm mùng Một tết, họ đụng độ với tàu Trung Quốc ở đảo Đá Đông và Châu Viên…
 |
| Bà Tình khoe với con trai những món tết con dâu để phần chồng, các cháu nội để phần cha - ẢNH: U.N. |
Trong 95 ngày ấy, mẹ ông qua đời ở quê nhà. 95 ngày trên biển, về đến Đà Nẵng ông mới nhận được tin nhưng phải nén đau thương trở lại ngay vì anh em trên tàu đang ở vùng nguy hiểm, không thể bỏ đi, “nhiệm vụ là trên hết”. Ở nhà, bà Đỗ Thị Tình - vợ ông - đang mang thai đứa con thứ hai, anh Dũng khi đó mới 2 tuổi. Rồi tin đồn lan ra: có người tên Hùng ở huyện Quảng Xương (trước kia) hy sinh trong trận Gạc Ma. Đơn vị lại về đưa cho gia đình mấy mét vải, mấy chục ký gạo. Người ta nhìn nhau, ai cũng nghĩ “Chắc không còn nữa rồi”.
Bà Tình kể: “Tôi mang bầu, nghe vậy ngất luôn. Mẹ chồng mất, chồng đang ở Trường Sa, không biết người hy sinh tên Hùng có phải chồng mình không. Nhà mình cũng ở huyện Quảng Xương mà…”. Gần 100 ngày sau bà mới nhận được tin chồng còn sống.
Năm nay, anh Dũng đi trực tết, lần đầu tiên xa nhà. Bà Tình, ông Hùng vào Đà Nẵng đợi đón con về trước khi trở lại quê. Trong ngôi nhà trọ của vợ chồng anh Dũng vẫn còn nguyên “phần tết” để dành cho anh: bánh chưng, giò lụa, hành muối…
Đêm giao thừa, vợ con anh ở lại nhà trọ. Cả khu vắng bóng người vì ai cũng về quê đón tết. Bà Tình gọi điện động viên con dâu nhưng chính bà cũng rưng rưng. Ông Hùng ở bên nói nhỏ: “Cứ vui vẻ để các con yên tâm. Mình là người lính, không được não lòng”. Kết thúc cuộc gọi, 3 mẹ con đưa nhau ra công viên chơi cho hết đêm giao thừa. Bà Tình nhìn cảnh ấy mà thương như thương chính mình hơn 30 năm trước. “Tôi cũng là vợ lính, mười mấy năm xa chồng nên hiểu. Cũng buồn, cũng chạnh lòng nhưng nén lại không nói ra, chỉ động viên con dâu và các cháu”.
 |
| Vợ chồng bà Đỗ Thị Tình - ông Đặng Huy Hùng cùng con trai - thiếu tá Đặng Huy Dũng - và các cháu nội - ẢNH: U.N. |
Những hy sinh thầm lặng
Ở Lữ đoàn Tên lửa bờ 680, câu chuyện của gia đình cựu quân nhân chuyên nghiệp Nguyễn Thị Phượng (sinh năm 1959) được nhiều người biết đến. Bà Phượng theo chồng vào Đà Nẵng từ những ngày Lữ đoàn 680 còn là đồi núi hoang, chỉ có vài căn nhà và hàng rào kẽm gai quây quanh. Chồng bà - ông Nguyễn Văn Hà - là một trong những người tham gia xây dựng những nền móng của Lữ đoàn 680. Ông từng đi học về tên lửa tại Nga suốt 5 năm, sau đó có một đợt công tác dài gần 18 tháng, trực tiếp tham gia cùng đơn vị đi tiếp nhận vũ khí và làm chủ trang bị. Những năm tháng ấy, ông đi biền biệt theo nhiệm vụ còn bà ở lại, vừa nuôi con vừa xoay xở trong thiếu thốn.
Sau khi chồng mất ở tuổi 47, bà vẫn ở lại Đà Nẵng vì nơi đây đã thành nhà bà - nơi con cái bà lớn lên, nơi những mối gắn bó đã kịp bám rễ. Và quan trọng, bà cần tiếp tục công việc ở Lữ đoàn 680 để nuôi các con ăn học, giữ cho gia đình không bị đứt gãy giữa biến cố.
 |
| Cựu quân nhân Nguyễn Thị Phượng (phải) và con gái - thiếu tá quân nhân chuyên nghiệp Nguyễn Thị Thu Vân - ẢNH: U.N. |
2 con gái của bà lớn lên trong môi trường ấy. Một người nối nghiệp, khoác áo lính; một người chọn con đường khác. Nhưng rồi, theo một cách rất tự nhiên, cả 2 con rể đều là bộ đội hải quân. Nhắc đến điều đó, bà không giấu được niềm tự hào: “Với 2 chàng rể thì tôi không chê được điểm nào”.
Trong căn nhà nhỏ gần lữ đoàn, nơi bà sống cùng con cháu, người ta vẫn thấy một “nếp nhà lính” rất rõ. Cháu bà được dạy dậy đúng giờ, ăn uống gọn gàng, tự xếp sách vở, đi học về thay quần áo, rửa tay rồi mới được làm việc khác. Có lần cháu mè nheo không chịu học bài, bà chỉ nói: “Nhà mình là nhà bộ đội, làm gì cũng phải nghiêm túc”. Câu nói đủ để đứa trẻ hiểu rằng có những điều không thể làm qua loa. Kỷ luật, với bà, không phải sự ép buộc mà là cách sống - thứ đã đi cùng những người lính suốt một đời và lặng lẽ ở lại trong nếp nhà.
“Tôi luôn nhắc con phải có lập trường chính trị rõ ràng, kiên định. Có quyết tâm cao mới bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo. Tôi nói những điều đó không phải như một người cha lo lắng cho con mà như người lính dặn dò đồng đội”. Ông ĐẶNG HUY HÙNG |
Thiếu tá quân nhân chuyên nghiệp Nguyễn Thị Thu Vân - con gái bà - nói vui rằng ở nhà, mẹ mình còn “nghiêm” hơn ở đơn vị. Nhưng chính sự nghiêm khắc ấy lại trở thành điểm tựa để vợ chồng chị, vợ chồng em gái chị yên tâm công tác. Ở gia đình ấy, truyền thống được giữ trong cách một người ở lại, một người tiếp nối và những đứa trẻ lớn lên. Khi được hỏi có bao giờ “nghĩ lại” về việc con gái theo nghiệp lính - cái nghiệp vất vả bà đã đi qua gần trọn một đời, bà lắc đầu cười: “Bộ đội ở đâu thì nhà ở đó. Tôi mừng chứ!”.
Lửa hậu phương truyền qua nhiều thế hệ
Không chỉ ở gia đình bà Phượng, sự tiếp nối còn hiện hữu rõ hơn trong những gia đình có nhiều thế hệ cùng ra biển. Ông Đặng Huy Hùng kể về 3 thế hệ hải quân trong nhà. Cha ông vào hải quân từ năm 1954, 60 năm tuổi Đảng. Ông Hùng có 41 năm quân ngũ. 2 người con trai là thế hệ thứ ba, đang tiếp tục con đường ra biển bảo vệ chủ quyền. Ông không ép con theo con đường của mình mà định hướng bằng việc kể cho các con nghe về những chuyến đi, về sóng và gió, về đêm mùng Một tết ở Đá Đông, về 95 ngày lênh đênh trên Biển Đông, khu vực quần đảo Trường Sa... Có lẽ những câu chuyện đó đã khiến anh Dũng và em trai có thêm niềm tin và tình yêu với màu áo lính.
Khi anh Dũng kết thúc chuyến trực tết trở về, bà Tình từ bếp chạy ra, ôm chầm lấy con. Bà không nói gì, chỉ ôm thật lâu, nước mắt cứ thế thấm vào lưng áo con, như thể những ngày chờ đợi đã dồn lại trong khoảnh khắc ấy.
Trong gian bếp của những gia đình lính biển, những người mẹ, người vợ vẫn bền bỉ giữ lửa bởi họ hiểu, sau mỗi chuyến đi, các anh cần một nơi vững chãi, ấm áp để trở về. Chính từ nơi ấy, qua từng thế hệ, tinh thần người lính được gìn giữ và tiếp nối như một phần lặng thầm của hành trình gìn giữ chủ quyền biển đảo thiêng liêng.
Uông Ngọc