Trong cuộc trò chuyện với phóng viên Báo Phụ nữ TPHCM, ông Nguyễn Thiện Nhân đã lý giải vì sao việc tăng tuổi nghỉ hưu là bước đi cần thiết để đảm bảo tăng trưởng bền vững trong tương lai.
 |
| Giáo sư, tiến sĩ Nguyễn Thiện Nhân - ẢNH: HUYỀN ANH |
NGUY CƠ VỠ QUỸ HƯU TRÍ
Phóng viên: Vì sao ông lại đề xuất tăng tuổi nghỉ hưu lên 65, trong khi Bộ luật Lao động 2019 vẫn đang có lộ trình thực hiện việc này đến năm 2035 với mốc tuổi thấp hơn?
Giáo sư, tiến sĩ Nguyễn Thiện Nhân: Việc đề xuất này xuất phát từ thực tế đã được chứng minh tại nhiều quốc gia: khi mức sinh giảm dưới mức thay thế, lao động sẽ giảm sau khoảng 20-25 năm.
Nhật Bản sinh dưới mức thay thế từ năm 1974, đến 1995, lao động đạt đỉnh và từ 1996 bắt đầu giảm. Như vậy, sau khi sinh không đủ trong hơn 20 năm, lao động Nhật Bản giảm và hậu quả xảy ra ngay.
Năm 1995, GDP bình quân đầu người của Nhật Bản là 44.200 USD, gấp 1,5 lần Mỹ nhưng năm 1996, GDP bình quân đầu người là 39.150 USD, giảm 11,4%. Năm 2024, con số này là 32.476 USD, giảm 26,5% so với năm 1995. Như vậy, năm 1996 đã kết thúc 33 năm (1962-1995) tăng trưởng hơn 13%/năm của quốc gia này.
Tương tự, Hàn Quốc sinh không đủ từ năm 1984, đạt đỉnh lao động năm 2018. Từ 2019, tăng trưởng cũng chững lại. Từ 2019-2024, GDP Hàn Quốc bình quân 6 năm nằm ngang, bằng năm 2018. Trong khi 43 năm trước, tăng trưởng hơn 9%/năm.
Bài học khác đến từ Trung Quốc - quốc gia sinh không đủ từ năm 1991. Năm 2011, lao động đạt đỉnh. Sau đó 10 năm, tăng trưởng của Trung Quốc vẫn trụ lại nhờ năng suất tăng. Sau thời gian từ 1995-2021 tăng trưởng 12,9%/năm, từ 2022 tới 2024, tốc độ tăng trưởng thấp hơn rất nhiều.
Qua đó có thể thấy việc số lượng lao động giảm sẽ ảnh hưởng tiêu cực tới tăng trưởng kinh tế vào thời điểm nào tùy thuộc từng quốc gia. Tuy nhiên, khi lao động giảm, tăng trưởng giảm là tất yếu.
Theo dự báo của Liên hiệp quốc, năm 2035, Việt Nam sẽ đạt đỉnh lao động. Từ 2036 trở đi, lao động sẽ giảm dần. Nếu không có chính sách điều chỉnh, tăng trưởng của đất nước sẽ bị kéo chậm.
Tăng trưởng 2 con số trong bối cảnh này, khi lao động giảm - là thách thức rất lớn trong giai đoạn 2036-2045. Biện pháp ngắn hạn cần làm là song song với tăng năng suất lao động, chúng ta phải ngăn lực lượng lao động giảm. Về dài hạn, phải giữ vững mức sinh thay thế.
* Xu hướng tăng tuổi nghỉ hưu trên thế giới hiện nay ra sao, thưa ông?
- Hiện trên thế giới có 87 quốc gia thuộc nhóm thu nhập cao, trong đó có 9 quốc gia (Na Uy, Hà Lan, Mỹ…) đã quy định tuổi nghỉ hưu trên 67. Riêng Đan Mạch đã công bố kế hoạch nâng tuổi nghỉ hưu lên 70 vào năm 2040 để đảm bảo cân đối quỹ hưu. Hiện chỉ 9 nước có tuổi nghỉ hưu dưới 65 nhưng nhiều nước đang có kế hoạch tăng lên 65.
Các quốc gia buộc phải tăng tuổi nghỉ hưu vì người dân sống lâu hơn, khỏe hơn, đáp ứng được công việc và mong muốn tiếp tục làm việc.
Một vấn đề quan trọng khác là áp lực không cân đối được quỹ hưu trí. Hàn Quốc dù có quỹ hưu trí lớn thứ ba thế giới, dân số đứng thứ 16 nhưng dự báo quỹ hưu trí không chi trả được vào năm 2055. Nguy cơ trên ở Trung Quốc còn sớm hơn. Dự báo đến 2035, quỹ hưu trí do nhà nước quản lý mất khả năng thanh toán.
 |
| Nhiều người già vẫn tích cực đọc sách báo, nâng cao kiến thức - ẢNH: UÔNG NGỌC |
XÃ HỘI CẦN THÊM LAO ĐỘNG ĐỂ PHÁT TRIỂN
* Theo ông, nếu tăng tuổi nghỉ hưu, cơ hội việc làm của lao động trẻ có bị thu hẹp?
- Lao động Việt Nam sẽ giảm đi chứ không tăng. Giai đoạn 1975-2011, lao động bình quân tăng hơn 2%/năm, đến 2021 chỉ còn 0,35%, dự báo đến 2035 là 0%. Từ 2036-2045, con số này là âm.
Dân số trong tuổi lao động năm 2024 là 63,47 triệu người. Dự báo năm 2035 là 66,59 triệu người. Con số này là 62,5 triệu người năm 2050 và 44,87 triệu người vào năm 2100.
Trong bối cảnh ấy, xã hội cần thêm lao động chứ không thể nói người già làm mất cơ hội của người trẻ. Nước nào cũng có tỉ lệ thất nghiệp nhất định nhưng không lớn. Vấn đề là làm sao tận dụng được nhóm lao động có kinh nghiệm, kỹ năng và trí tuệ cao.
Những người 59-64 tuổi không phải là nhóm có sức khỏe tốt nhất nhưng có nhiều kinh nghiệm, trình độ kỹ thuật cao và là tài sản quý giá trong nhiều lĩnh vực như giáo dục, y tế, kỹ thuật...
Hơn nữa, công thức cơ bản là: Tăng trưởng GDP (%) = Tăng năng suất lao động (%) + Tăng lao động (%). Nếu lao động không tăng, năng suất phải tăng tương ứng mới duy trì được tăng trưởng GDP. Theo cách này, Nhật Bản và Hàn Quốc không thành công dù họ phát triển về công nghệ, kỹ thuật và tự động hóa. Trung Quốc cũng chỉ duy trì được 10 năm.
Giai đoạn 5 năm vừa qua, năng suất lao động của Việt Nam tăng bình quân 5,3%/năm, trong khi tốc độ tăng GDP khoảng 6,3%/năm. Nếu trong tương lai, lao động ổn định (không tăng - không giảm), năng suất phải tăng gần gấp đôi - tức khoảng 10%/năm - mới đạt được tăng trưởng GDP 10%. Điều này hầu như chưa quốc gia nào đạt được trong 20 năm.
Còn nếu lao động giảm, năng suất phải tăng hơn 10%/năm. Do đó, việc bù đắp năng suất thay cho suy giảm lao động là rất khó khăn, thậm chí không thể, như trường hợp Nhật Bản, Hàn Quốc.
 |
| Phó giáo sư, tiến sĩ, anh hùng lao động Nguyễn Thị Trâm (sinh năm 1944) vẫn miệt mài lao động, nghiên cứu phát triển các giống lúa - Ảnh do nhân vật cung cấp |
CHUẨN BỊ CHO TUỔI NGHỀ DÀI HƠN
* Theo ông, lộ trình tăng tuổi hưu nên thực hiện như thế nào?
- Tôi cho rằng cần có một lộ trình tăng dần, không làm giật cục, kéo dài khoảng 10 năm. Nguyên tắc là tự nguyện và linh hoạt: ai có sức khỏe, năng lực thì có quyền được làm việc đến 64 tuổi. Ai không muốn có thể nghỉ sớm tối đa 5 năm, vẫn giữ quyền lợi bảo hiểm như hiện hành. Các nghề nặng nhọc, độc hại nên được nghỉ sớm hơn, quy định rõ trong luật.
Cách làm đó không chỉ giúp bù đắp tình trạng thiếu hụt lao động mà còn mang lại lợi ích kép: người lao động có thêm cơ hội đóng góp và hưởng thu nhập cao hơn; quỹ hưu trí có thêm nguồn thu, giảm nguy cơ vỡ quỹ trong tương lai.
* Để người lao động có thể làm việc đến 64 tuổi, chúng ta cần những chính sách gì đi kèm?
- Trước hết là sức khỏe. Phải chăm sóc, rèn luyện sức khỏe từ sớm. Thứ hai là thiết kế lại hệ thống bảo hiểm. Người làm tới mức như quy định hiện hành vẫn được mức hưởng như trước. Người tự nguyện làm tới 64 tuổi được chi trả lương hưu tốt hơn.
Ngoài ra, nên có cơ chế khuyến khích doanh nghiệp sử dụng người lao động lớn tuổi, chẳng hạn thông qua ưu đãi thuế hoặc hỗ trợ đào tạo. Giáo dục cũng cần đổi mới, không chỉ dạy kỹ năng nghề mà còn dạy cách để mỗi người có thể sống hạnh phúc, biết cân bằng.
* Phải chăng tăng tuổi nghỉ hưu là gốc rễ để giải quyết bài toán tăng trưởng bền vững, thưa ông?
- Dù có tăng tuổi nghỉ hưu nhưng nếu mức sinh không đạt mức thay thế, quỹ hưu vẫn mất cân đối. Khi lao động giảm, số người đóng góp vào quỹ bảo hiểm giảm. Kinh nghiệm thế giới chỉ ra, khi tỉ lệ người đi làm/người nghỉ hưu ở mốc trên 2/1, quỹ hưu còn an toàn. Khi giảm xuống tỉ lệ 1/1, nguy cơ vỡ quỹ rất cao.
Ở Việt Nam, năm 2000, cứ 5,4 người đi làm có 1 người hưu. Con số này trong năm 2025 là 3,3/1, dự báo tới 2045 là 1,8/1. Ước tính, năm 2100, tỉ lệ giảm còn 0,98/1 và dự báo vỡ quỹ vào khoảng năm 2070-2080 nếu không có biện pháp điều chỉnh.
Như vậy, gốc rễ vẫn là duy trì mức sinh thay thế. Thực tế, người dân không ngại sinh mà vì thu nhập không đủ để sinh thêm con. Do đó, cùng với chính sách hưu trí, Nhà nước phải đảm bảo lương tối thiểu đủ sống - nghĩa là 1 người đi làm phải nuôi được ít nhất 1 người con. Nếu không đạt điều kiện ấy, không quốc gia nào có thể duy trì mức sinh thay thế dù tăng tuổi nghỉ hưu hay cải thiện phúc lợi đến đâu.
* Xin cảm ơn ông.
CHUẨN BỊ ĐỂ GIÀ HÓA MỘT CÁCH CHỦ ĐỘNG “Tôi đã nghiên cứu vấn đề dân số từ năm 2008, khi còn là Phó thủ tướng phụ trách lĩnh vực này và mất 17 năm mới nhìn rõ nguy cơ. Khi mức sinh giảm, phải 2 thập niên sau mới thiếu lao động và lúc đó mới gây hậu quả kinh tế, làm suy giảm tăng trưởng. Phải sau 45-70 năm, quỹ hưu trí mới vỡ, khủng hoảng an sinh người già. Nếu chờ đến khi thiếu lao động mới điều chỉnh thì đã quá muộn. Việc tăng tuổi nghỉ hưu chỉ là một phần của chiến lược để chúng ta già hóa chủ động”. Giáo sư, tiến sĩ NGUYỄN THIỆN NHÂ |
Như Diệp (thực hiện)
TIẾT KIỆM NHIỀU HƠN, LÀM VIỆC LÂU HƠN Theo nghiên cứu của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), cả tiết kiệm cá nhân lẫn ngân sách nhà nước đều có nguy cơ suy giảm trong vài thập niên tới do chi tiêu cho lương hưu ngày càng lớn. Điều đó đặt ra yêu cầu người lao động phải tiết kiệm nhiều hơn và làm việc lâu hơn nếu muốn duy trì mức sống sau khi nghỉ hưu. Già hóa dân số là xu hướng không thể đảo ngược, Việt Nam cũng không ngoại lệ. Nếu không có sự điều chỉnh kịp thời, người dân nhiều quốc gia có nguy cơ đối mặt tương lai sống lâu hơn nhưng kém an toàn tài chính hơn. Trước thách thức đó, theo bạn, Việt Nam cần làm gì? Ý kiến tham gia diễn đàn tối đa 1.000 chữ gửi về email: toasoan@baophunu.org.vn. |