Lặng lẽ một nghề xưa
Đến đường Lê Duẩn ở TP Huế, đi từ cầu Dã Viên ra phía bắc, đoạn qua cửa Chánh Tây thường được gọi quen là “phố nôi”. Góc phố nhỏ có khoảng chục hộ họ hàng với nhau: hiệu nôi ông Thành, ông Tuấn, mệ (bà) Hoa, chị Thương... Không ai nhớ chính xác nghề đan nôi mây tre ở đây có từ bao giờ. Chỉ biết đến nay, họ đều là đời thứ ba, thứ tư theo nghề gia truyền.
 |
| Suốt 40 năm qua, ông Trần Văn Thành vẫn lặng lẽ với nghề làm nôi mây - ẢNH: NGỌC MINH |
Ông Trần Văn Thành dù đã 70 tuổi nhưng hằng ngày vẫn lặng lẽ ngồi đan nôi bên hiên nhà. Ông theo nghề suốt 40 năm nay. Ông kể: “Ngày mới học, tôi theo ba mẹ phụ xếp mây và làm việc lặt vặt. Dần dần, tôi được dạy cách đan, thắt nút từng sợi mây để chiếc nôi cân đối, đẹp mắt. Với người giỏi, chưa kể công đoạn chẻ mây, tre, mất đến 2-3 ngày để hoàn thành 1 chiếc nôi”.
Những cây mây được chọn không quá già cũng không quá non. Sợi mây được vót mỏng, ngâm nước cho mềm và phơi khô dưới nắng để đạt độ dẻo cần thiết.
|
“Làm nôi phải tinh tế từ lúc chọn nguyên liệu. Mây non thì dễ gãy, mà mây già quá thì cứng, khó uốn vành và đan”. Ông TRẦN VĂN THÀNH |
Nghề đan nôi mây nhìn qua tưởng đơn giản nhưng bắt tay vào mới biết không hề dễ. Qua được khâu nguyên liệu mới tới các công đoạn đan theo đúng thứ tự. Trước hết là làm mặt nôi, giăng sợi cho ngay hàng thẳng lối, đan cho chắc tay. Khi mặt nôi đã ổn mới dựng gông, rồi đan vòng dần lên thành nôi. Phần lưới nơi trẻ nằm đòi hỏi sự tỉ mỉ cao nhất. Sợi mây phải đan chặt nhưng vẫn mềm để nôi vừa êm vừa thoáng, không cấn, không bí hơi. Chiếc nôi hoàn chỉnh thường được quét thêm lớp dầu mây tự nhiên để tăng độ bền và giữ màu.
Theo ông Thành, ngày trước cả xóm đều làm nghề. Mỗi buổi sáng, thuyền bè từ miền núi Nam Đông, A Lưới theo dòng sông Hương chở mây về rồi lại xuôi đi khắp nơi mang theo những chiếc nôi thành phẩm. Thợ đan nôi lành nghề như vợ chồng ông Thành cùng em trai ông - ông Trần Văn Phúc, 60 tuổi - mỗi người cố gắng lắm chỉ đan được 2 chiếc nôi nhỏ mỗi ngày. “Với mức giá bỏ sỉ ở chợ Đông Ba là 180.000 đồng/nôi nhỏ và 350.000 đồng/nôi lớn, nghề đan này đúng nghĩa lấy công làm lời. Tiền lời không đủ mua được nửa ký thịt heo” - ông Thành thổ lộ.
 |
| Ông Trần Văn Thành đang kiểm tra nôi mây đã hoàn thiện trước khi giao cho khách - ẢNH: NGỌC MINH |
Giữ một phần ký ức cố đô
Hình ảnh chiếc nôi đưa trẻ vào giấc ngủ sau lời ru của bà, của mẹ đã trở thành một phần quen thuộc trong văn hóa làng quê xứ Huế. Nhiều đứa trẻ lớn lên vẫn nhớ mãi lời ru êm cùng tiếng nôi kẽo kẹt dưới mái nhà xưa: “Ru em, em thé (ngủ say) cho muồi. Để mẹ đi chợ mua vôi têm trầu. Mua vôi chợ Quán, chợ Cầu. Mua cau Nam Phổ, mua trầu chợ Dinh. Chợ Dinh bán áo con trai. Triều Sơn bán nón, Mậu Tài bán kim…”.
Bà Trần Thị Vui - 74 tuổi, có kinh nghiệm gần 60 năm trong nghề đan nôi - kể: “Ngày xưa, cả xóm không có điện nhưng nhà nhà vẫn chong đèn dầu làm việc hăng say”. Những hình ảnh ấy nay chỉ còn trong dĩ vãng. Công nghiệp phát triển, nôi điện xuất hiện càng nhiều, chiếm lĩnh thị trường bởi sự tiện lợi cùng giá cả cạnh tranh. Sản phẩm công nghiệp còn thắng thế về tốc độ sản xuất. Nếu 1 chiếc nôi mây cần đến vài ngày để hoàn thiện thì nôi công nghiệp có thể được sản xuất hàng loạt trong thời gian ngắn.
Dẫu đối mặt nhiều khó khăn, thách thức, vẫn còn những người thợ gắn bó bền bỉ với nghề như ông Thành, bà Vui. Với họ, đan nôi không chỉ để mưu sinh mà còn là tình yêu dành cho nghề, cho những giá trị văn hóa được gìn giữ qua từng sợi mây.
“Nôi đưa bằng tay, lực nặng hay nhẹ tùy tâm trạng người ru nên nôi mây so ra vẫn lành tính, mát, thoáng khí, không ảnh hưởng đến giấc ngủ của trẻ. Để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng, những năm gần đây, chúng tôi đã linh hoạt biến tấu chiếc nôi cho phù hợp. Chiếc nôi treo 4 dây trên mái nhà ngày xưa được thay bằng giá gỗ móc, vừa gọn vừa vững trên sàn”. Ông TRẦN VĂN THÀNH |
Trong nhịp sống hiện đại, ít gia đình còn giữ thói quen ru con bằng lời ru của bà, của mẹ; thay vào đó là những giai điệu từ ti vi, điện thoại. Những chiếc nôi truyền thống cũng dần nhường chỗ cho các loại giường, đệm tiện lợi. Dẫu vậy, nghề đan nôi mây ở “phố nôi” Huế vẫn được duy trì một cách âm thầm mà bền bỉ. “So với xưa thì không bằng nhưng hàng làm ra vẫn bán được nên tui quyết theo nghề tới cùng” - ông Thành cười hiền.
Nếp xưa trong chiếc nôi HuếTheo nhà văn hóa Phan Kế Bính (1875-1921), trong sách Việt Nam phong tục, ngày xưa, khi đứa trẻ đến tuổi nằm nôi, gia đình phải coi ngày lành tháng tốt, chọn giờ nước lên để mong con ăn no ngủ kỹ. Người đặt trẻ vào nôi cũng phải là người ăn, ngủ tốt nhằm… lấy cái nết cho đứa trẻ. Thậm chí, có gia đình dù khá giả vẫn không mua nôi mới mà tìm xin lại chiếc nôi của nhà có con khỏe mạnh, chóng lớn nhằm lấy may. Đến nay, các nghệ nhân đan nôi ở Huế vẫn bền bỉ giữ nghề. Họ không lặp lại những mẫu mã cũ mà linh hoạt sáng tạo, làm nên nét duyên riêng cho chiếc nôi miền sông Hương - núi Ngự. Nhờ vậy, “phố nôi” Huế vẫn còn khách tìm đến, như một cách gìn giữ nếp xưa trong đời sống hôm nay. |
Thuận Hóa