Cần làm gì để nâng cao độ tuổi lao động bền vững, công bằng và nhân văn?

Tuổi hưu linh hoạt cho một xã hội đang già đi

16/06/2026 - 06:00

PNO - Việt Nam sẽ chính thức bước vào thời kỳ dân số già từ năm 2034, khi tỉ lệ người từ 65 tuổi trở lên đạt 14%. Trước thực trạng trên, tăng tuổi hưu có phải là giải pháp cấp thiết?

Theo dự báo, Việt Nam sẽ kết thúc thời kỳ dân số vàng vào khoảng năm 2036. Trong khi lực lượng lao động dần thu hẹp, số lượng người cao tuổi lại tăng với tốc độ rất nhanh. Năm 2024, Việt Nam có khoảng 14,2 triệu người từ 60 tuổi trở lên. Con số này dự báo tăng lên 20,9 triệu người vào năm 2034. Việt Nam sẽ chính thức bước vào thời kỳ dân số già từ năm 2034, khi tỉ lệ người từ 65 tuổi trở lên đạt 14%. Trước thực trạng trên, tăng tuổi hưu có phải là giải pháp cấp thiết?

Phóng viên Báo Phụ nữ TPHCM đã trò chuyện cùng thạc sĩ Nguyễn Quang Việt Ngân - Phó trưởng khoa Địa lý kiêm Phó giám đốc Trung tâm Nghiên cứu dân số và Phát triển, Trường đại học Khoa học xã hội và nhân văn, thuộc Đại học Quốc gia TPHCM - về vấn đề này.

Thạc sĩ Nguyễn Quang Việt Ngân - Ảnh do nhân vật cung cấp
Thạc sĩ Nguyễn Quang Việt Ngân - Ảnh do nhân vật cung cấp

BÀI TOÁN AN SINH NGÀY CÀNG CẤP BÁCH

Phóng viên: Thưa bà, việc tăng tuổi nghỉ hưu có phải là giải pháp tất yếu để bù đắp tình trạng thiếu hụt lực lượng lao động trong tương lai?

Thạc sĩ Nguyễn Quang Việt Ngân: Trong bối cảnh cấu trúc nhân khẩu học đang chuyển dịch mạnh mẽ, việc điều chỉnh lộ trình tăng tuổi nghỉ hưu không đơn thuần là một quyết định hành chính mà là một phản ứng chính sách mang tính sống còn.

Chúng ta đang đứng trước thách thức kép. Thách thức thứ nhất là sự suy giảm lợi tức dân số. Khi tốc độ già hóa diễn ra nhanh hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế, bài toán thiếu hụt lao động trở nên hiện hữu. Việc kéo dài thời gian đóng góp của nhóm lao động có kinh nghiệm không chỉ giúp duy trì quy mô lực lượng sản xuất mà còn tối ưu hóa nguồn vốn nhân lực xã hội.

Thách thức thứ hai là tính bền vững của hệ thống an sinh. Việc điều chỉnh tuổi hưu là điều kiện tiên quyết để đảm bảo sự cân đối dài hạn của quỹ bảo hiểm xã hội, ngăn chặn rủi ro thâm hụt khi tỉ lệ người hưởng lương hưu tăng cao so với người đóng góp. Đây là giải pháp được cân nhắc tại nhiều nước, áp dụng trước kịch bản hệ lụy “chưa giàu đã già”, nơi gánh nặng tài chính có thể kìm hãm đà phát triển kinh tế.

“Cần nhìn nhận khách quan rằng tăng tuổi nghỉ hưu không phải là giải pháp duy nhất có thể giải quyết mọi vấn đề. Nếu thiếu các chính sách đào tạo cập nhật kỹ năng cho người lao động lớn tuổi, cải thiện hệ thống chăm sóc sức khỏe và hình thành thị trường lao động linh hoạt, đây chỉ là một giải pháp tình thế”.

Thạc sĩ NGUYỄN QUANG VIỆT NGÂN

Giải pháp này khả thi khi được đặt trong một hệ sinh thái chính sách tổng thể, nơi việc kéo dài tuổi nghề song hành với nâng cao chất lượng cuộc sống và hiệu suất lao động thực tế.

* Có ý kiến cho rằng chỉ cần tăng tuổi hưu cho người lao động trí óc, ví dụ trong lĩnh vực giảng dạy, nghiên cứu, còn với các ngành nghề thiên về lao động thể chất thì không nên. Bà nghĩ sao về chính sách tuổi hưu linh hoạt?

- Việc áp dụng một độ tuổi nghỉ hưu “cứng” cho tất cả ngành nghề có thể xâm phạm quyền được bảo vệ sức khỏe của người lao động. Chúng ta cần tiếp cận với sự phân hóa theo loại hình lao động đặc thù và nguyện vọng của người dân. Nếu lao động trí óc là cơ hội để tận dụng kho tàng kinh nghiệm và chất xám quý báu mà người trẻ cần học hỏi và có quá trình kế thừa chuyển giao; đối với lao động thể chất trực tiếp như công nhân may hay khai thác khoáng sản, lao động ngoài trời…, việc kéo dài thời gian làm việc lại là gánh nặng gây tổn hại nghiêm trọng đến thể lực người lao động.

Do đó, chính sách tuổi hưu linh hoạt là hướng đi nhân văn, đồng thời là giải pháp tối ưu hóa nguồn lực xã hội. Dựa trên nền tảng pháp luật hiện hành về việc nghỉ hưu sớm cho nghề độc hại và kéo dài tuổi nghề cho chuyên gia trình độ cao, cần tiếp tục nghiên cứu để đảm bảo quyền lợi thực tế và sự công bằng cho mọi đối tượng lao động.

CẦN CHUẨN BỊ TỪ HÔM NAY

* Theo quy định hiện nay, tuổi hưu có sự chênh lệch giữa nam và nữ. Trong khi tại một số quốc gia, tuổi hưu của nam và nữ bằng nhau. Theo bà, việc tuổi hưu của nữ thấp hơn của nam có phải là biểu hiện của bất bình đẳng giới? Có nên thay đổi chính sách để thời gian lao động và cống hiến của nam và nữ ngang nhau?

- Quan điểm về việc có nên duy trì khoảng cách tuổi nghỉ hưu giữa nam và nữ hay không vẫn là vấn đề gây tranh luận ở nhiều quốc gia. Hiện nay, tại một số quốc gia, trong đó có Việt Nam, phụ nữ vẫn đang gánh vác phần lớn công việc “lao động không lương” (chăm sóc gia đình, con cái). Vì thế, việc nữ nghỉ hưu sớm hơn thường được xem là một sự ưu tiên, bù đắp cho những cống hiến thầm lặng này. Nếu nhìn dưới góc độ quyền được cống hiến và quyền có thu nhập, việc nữ nghỉ hưu sớm có thể bị coi là hạn chế cơ hội thăng tiến và giảm mức thu nhập.

Vì vậy, lộ trình thu hẹp khoảng cách thay vì san bằng tuổi hưu ngay lập tức có thể phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Lộ trình ấy vừa đảm bảo quyền lợi kinh tế cho phụ nữ vừa tôn trọng đặc điểm tâm sinh lý và chia sẻ với việc chăm sóc gia đình của họ.

* Có cách nào cân bằng giữa việc nâng tuổi hưu và đảm bảo quyền lợi chăm sóc sức khỏe cho người lao động cao tuổi, thưa bà?

- Để nâng tuổi hưu mà không làm giảm chất lượng sống của người cao tuổi, chúng ta cần một hệ sinh thái toàn diện hỗ trợ người cao tuổi.

Thứ nhất, hệ thống các công việc cần được phân chia phù hợp. Cụ thể là chuyển từ các nhiệm vụ đòi hỏi thể lực sang các nhiệm vụ giám sát, hướng dẫn hoặc vận hành máy móc nhẹ nhàng. Thứ hai là phát triển hệ thống chăm sóc và hỗ trợ doanh nghiệp trong việc chăm sóc sức khỏe định kỳ cho người cao tuổi. Thứ ba là đào tạo lại để người lao động cao tuổi có thể làm chủ công nghệ, giảm bớt áp lực cơ bắp. Đồng thời xa hơn chính là sự chuẩn bị sức khỏe cho nguồn lao động cao tuổi song song với kinh nghiệm kỹ năng, bắt đầu từ nhóm tuổi trung niên và thanh niên.

* Ngoài tăng tuổi hưu, Việt Nam có thể xem xét những giải pháp nào để đảm bảo nguồn lao động phát triển đất nước?

- Việt Nam không thể chỉ dựa vào việc nâng tuổi nghỉ hưu mà cần đồng bộ triển khai nhiều giải pháp.

Thứ nhất, nâng cao năng suất lao động: chuyển đổi số và tự động hóa để dùng ít lao động hơn nhưng tạo ra giá trị cao hơn. Thứ hai, tận dụng dư địa từ chuyển cư. Cụ thể là quản lý tốt luồng di cư để phân bổ lao động hợp lý giữa các vùng miền. Thứ ba là khuyến khích sinh sản hợp lý. Điều chỉnh chính sách dân số từ kiểm soát sinh sang duy trì mức sinh thay thế để đảm bảo cơ cấu tuổi trong tương lai.

Cuối cùng là xây dựng thị trường việc làm cho người cao tuổi. Chúng ta tạo ra các công việc bán thời gian, công việc tư vấn hoặc các mô hình kinh tế bạc để người cao tuổi tham gia đóng góp tùy theo khả năng và nguyện vọng, đúng với tinh thần người cao tuổi là nguồn lực quý giá của quốc gia.

* Xin cảm ơn bà.

NHÃ CHÂN (thực hiện)

 

news_is_not_ads=
TIN MỚI