Không phủ nhanh mà xây những mạch xanh bền vững

01/02/2026 - 07:28

PNO - Trao đổi với phóng viên Báo Phụ nữ TPHCM, tiến sĩ Nguyễn Thị Hương Giang - Giám đốc TreeBank, giảng viên Trường đại học Vinh - đã chia sẻ cách tiếp cận khoa học, thực tế trong các mô hình trồng tre chống lũ, trồng cây tạo sinh kế.

Phóng viên: Trong nhiều dự án của TreeBank, tre được chọn trồng ở các vùng thường xuyên bị lũ ống, lũ quét. Vì sao lại là tre, thưa tiến sĩ?

Tiến sĩ Nguyễn Thị Hương Giang: Tre là loài cây có hệ rễ lan rộng, cắm sâu vào đất, giúp giữ nước trong tầng đất mặt và cố định kết cấu đất trên các triền dốc. Vì vậy, tre thích hợp trồng ở những khu vực có độ dốc lớn, ven sông suối, ta luy đường - những điểm thường xuyên xảy ra sạt lở.

Khi thiết kế mô hình trồng tre, chúng tôi không coi đó là những cây trồng rời rạc mà là một dải rừng phòng hộ sinh học. Tuy nhiên, dải rừng này chỉ thực sự bền vững khi gắn được với sinh kế của cộng đồng. Nếu người dân có lợi ích trực tiếp từ măng tre và thân tre, họ sẽ sẵn sàng bảo vệ và chăm sóc cây lâu dài. Ngược lại, nếu trồng chỉ để che đất thì rất khó giữ được rừng.

* Trồng tre có chiếm đất canh tác hoặc làm nghèo đất không, thưa bà?

- Đây là băn khoăn rất phổ biến. Trên thực tế, tre có đặc điểm sinh học khá phù hợp với việc canh tác. Trong 3 năm đầu, tre chủ yếu phát triển hệ rễ dưới đất, chưa tạo tán, không xâm chiếm diện tích bề mặt nên người dân vẫn có thể trồng xen các cây lương thực ngắn ngày như bắp, đậu phộng (lạc), khoai mì... Khi chăm sóc cây trồng xen canh, người dân cũng đồng thời chăm sóc tre. Sau khoảng 3 năm, tre bắt đầu tạo tán; từ năm thứ tư là cho măng và từ năm thứ năm trở đi có thể khai thác thân tre theo quy trình đã cam kết.

Hiện nay, ở nhiều địa phương - đặc biệt là khu vực phía tây Nghệ An - đã có doanh nghiệp và hợp tác xã thu mua tre, măng tại chỗ, người dân không phải mang sản phẩm đi xa. Với đồng bào miền núi, tre và măng thực sự trở thành nguồn thu linh hoạt, giúp họ chủ động hơn trong đời sống. Về mặt sinh thái, tre không làm nghèo đất như nhiều người lo ngại. Dưới tán tre, nhiều loài cây vẫn sinh trưởng được, lá tre rụng tạo chu trình dinh dưỡng tự nhiên, cải thiện đất. Chúng tôi không xây dựng mô hình rừng thuần loài khép kín mà hướng tới những hệ sinh thái mở, đa dạng và thích nghi.

* Thưa bà, có những khó khăn gì khiến mô hình khó nhân rộng?

- Thực tế cho thấy, người dân sẵn sàng đồng hành, chính quyền địa phương cũng rất ủng hộ trong khuôn khổ quy hoạch và pháp luật. Nút thắt lớn nhất nằm ở sự chung tay mang tính hệ thống, đặc biệt là vai trò của doanh nghiệp. Khi doanh nghiệp chỉ tài trợ ngắn hạn, mô hình rất khó đi xa. Nhưng khi doanh nghiệp tham gia với tư cách đối tác dài hạn, gồm hỗ trợ tài chính, hỗ trợ kỹ thuật, bao tiêu đầu ra thì chuỗi sinh thái và sinh kế mới thực sự được khép kín.

Trong các dự án mà TreeBank triển khai, những nơi có doanh nghiệp đồng hành sâu, người dân yên tâm giữ cây hơn bởi họ nhìn thấy đầu ra và giá trị lâu dài. Khi đó, trồng rừng trở thành một phần của đời sống kinh tế địa phương.

* Theo bà, doanh nghiệp nên tham gia vào các dự án trồng rừng, trồng cây như thế nào để tạo tác động thực chất?

- Doanh nghiệp không cần làm quá nhiều thứ cùng lúc mà quan trọng là làm đúng vai. Doanh nghiệp có thể tham gia ở những khâu mà cộng đồng còn yếu, như hỗ trợ giống, kỹ thuật, tiêu chuẩn hóa sản phẩm hoặc bao tiêu đầu ra. Khi người dân nhìn thấy sản phẩm của mình có thị trường và giá trị ổn định, họ sẽ tự giác giữ rừng và chăm sóc cây.

Một yếu tố rất quan trọng khác là sự hiện diện. Khi lãnh đạo, nhân viên doanh nghiệp trực tiếp xuống thực địa, cùng trồng cây, cùng lắng nghe người dân chia sẻ thì trách nhiệm xã hội không còn nằm trên giấy mà trở thành một phần của văn hóa doanh nghiệp. Chính sự gắn kết này mới tạo ra tác động dài hạn cho cả môi trường lẫn cộng đồng.

* TreeBank kỳ vọng gì trong chặng đường sắp tới, thưa bà?

- Giai đoạn 2026-2028, TreeBank không đặt mục tiêu phủ nhanh mà tập trung xây dựng các mô hình điểm có đủ 3 yếu tố: sinh thái, sinh kế, nguồn lực đồng hành. Trước mắt, chúng tôi ưu tiên những địa bàn chịu tác động mạnh của thiên tai, để hình thành các hệ sinh thái thích ứng với biến đổi khí hậu gắn với sinh kế. Chúng tôi đóng vai trò kết nối, còn sức lan tỏa phụ thuộc vào việc các nguồn lực bao gồm cộng đồng, chính quyền và doanh nghiệp có gặp nhau đúng lúc hay không. Khi mỗi bên cùng đặt mình vào một mạch chung, việc trồng rừng không chỉ giúp giảm rủi ro thiên tai mà còn tạo nền tảng cho sinh kế bền vững của ngườVi dân.

* Xin cảm ơn bà.

Ngọc Minh Tâm (thực hiện)

 

news_is_not_ads=
TIN MỚI