Đừng để trẻ tự cầu cứu bằng những vết thương

11/05/2026 - 05:09

PNO - Những cánh cửa đóng kín tạo ra kiểu sống “mỗi nhà là một thế giới riêng”. Trong bối cảnh đó, việc đứa trẻ bị bạo hành rất dễ nằm ngoài tầm chú ý của cộng đồng.

Ảnh minh họa: Internet
Ảnh minh họa: Internet

Có một chi tiết lặp đi lặp lại trong hầu hết các vụ bạo hành trẻ em thời gian qua: hành vi bạo hành kéo dài suốt nhiều tuần, nhiều tháng giữa khu dân cư đông đúc. Nghĩa là quanh những đứa trẻ ấy, luôn có người lớn hiện diện. Có hàng xóm, chủ nhà trọ, giáo viên, có những người từng đi ngang cánh cửa - nơi tiếng khóc đã vang lên không chỉ 1 lần.

Nhưng phải đến khi đứa trẻ nhập viện, thậm chí tử vong, hoặc clip bị phát tán lên mạng xã hội, mọi chuyện mới được làm cho sáng tỏ. Câu hỏi đặt ra là: vì sao không ai lên tiếng sớm hơn?

Một đồng nghiệp của tôi kể, tháng trước, lúc 2g sáng, anh nghe tiếng ầm ĩ từ phòng trên cùng của dãy trọ. Anh đã đi lên gõ cửa nhưng không ai mở nên quay về, nghĩ đó là “chuyện nhà người ta”. Tuần trước, người đàn ông ở căn phòng ấy bị bắt vì hành hạ đứa trẻ 4 tuổi. Cháu bé không còn nữa. Tôi kể lại chuyện này không phải để phán xét anh, mà để nói rằng, xã hội đang dần mất đi cả 2 thứ từng giúp trẻ nhỏ được bảo vệ tự nhiên: sự gắn kết cộng đồng và khả năng nhận diện nguy cơ.

Ngày trước, ở những khu dân cư, xóm trọ cũ, người ta biết khá rõ nhà bên cạnh gốc gác ở đâu, có mấy đứa con, hôm nay đứa trẻ có đi học không... bởi đời sống cộng đồng khi ấy gắn kết tự nhiên. Trẻ con lớn lên giữa nhiều tầng quan sát của hàng xóm, tổ dân phố, họ hàng, người quen. Còn hôm nay, ở nhiều nơi, có những người sống sát vách nhau nhưng đến cái tên của nhau có khi còn không biết.

Bây giờ, một gia đình chuyển đến rồi chuyển đi mà không ai nhớ mặt, cũng không biết họ đến và đi từ khi nào. Những cánh cửa đóng kín tạo ra kiểu sống “mỗi nhà là một thế giới riêng”. Trong bối cảnh đó, việc đứa trẻ bị bạo hành rất dễ nằm ngoài tầm chú ý của cộng đồng.

Bên cạnh sự đứt gãy liên kết cộng đồng, đa số người lớn không được trang bị kiến thức để nhận diện dấu hiệu trẻ bị bạo hành. Người ta thường chỉ nghĩ đến bạo hành khi nhìn thấy thương tích nghiêm trọng, trong khi có thể nhận ra tín hiệu cầu cứu của đứa trẻ từ rất sớm thông qua tâm lý trẻ. Nếu cộng đồng không biết để nhận ra, những dấu hiệu ấy sẽ trôi qua.

Ở nhiều nước phát triển, chỉ cần nghi ngờ trẻ có nguy cơ bị bạo hành, giáo viên, nhân viên y tế hay người chăm sóc liền báo ngay cho cơ quan bảo vệ trẻ em bởi trách nhiệm chung của người lớn là phát hiện sớm nguy cơ và tìm cách giải quyết. Điều đó cho thấy, bảo vệ trẻ em phải bắt đầu từ năng lực phòng vệ của cộng đồng.

Trẻ em là nhóm yếu thế nhất trong xã hội. Các em không có khả năng tự vệ, không đủ năng lực phản kháng và nhiều khi cũng không biết mình đang bị xâm hại. Pháp luật có thể trừng phạt kẻ bạo hành, nhưng trước khi pháp luật can thiệp, rất cần những người lớn xung quanh nạn nhân để tâm, nhạy cảm và có trách nhiệm. Cần nhìn trẻ em như một con người độc lập chứ không phải “tài sản” thuộc quyền sở hữu của người lớn.

Có thể chúng ta không quay lại được kiểu làng xóm cũ nhưng ít nhất, xã hội hiện đại cũng không nên trở thành nơi mà không ai nhận ra việc trẻ em bị tổn thương ngay giữa đám đông. Đừng để những đứa trẻ - nạn nhân của bạo hành - phải tự cầu cứu bằng chính những vết thương trên cơ thể mình.

Huy Quang

 

news_is_not_ads=
TIN MỚI