Cộng đồng là mạng lưới quan trắc rộng khắp

08/05/2026 - 05:58

PNO - Có những thay đổi rất nhỏ, như nước đục hơn một chút, có mùi lạ, cá ít đi, cây trồng không còn phát triển như trước… nếu chờ đến khi có báo cáo chính thức thì thường đã muộn.

Lâu nay, cách chúng ta bảo vệ môi trường nước vẫn chủ yếu là quản lý từ trên xuống, tức là có kiểm tra, có báo cáo, có quy trình. Như vậy là chưa đủ, bởi không có một cơ quan nào đứng ở tất cả các khúc sông, ở mọi thời điểm để theo dõi được hết những gì đang diễn ra.

Nhưng người dân thì có. Họ sống ở đó, dùng nước mỗi ngày, và họ là những người nhận ra sự thay đổi sớm nhất.

Có những thay đổi rất nhỏ, như nước đục hơn một chút, có mùi lạ, cá ít đi, cây trồng không còn phát triển như trước… nếu chờ đến khi có báo cáo chính thức thì thường đã muộn. Chỉ có điều, trong một thời gian dài, chúng ta chưa thực sự coi người dân là một phần của hệ thống giám sát.

Luật đã nói rất rõ: người dân có quyền phát hiện, phản ánh, kiến nghị, giám sát việc xử lý các vấn đề môi trường. Nhưng có quyền là một chuyện, thực hiện được quyền hay không lại là chuyện khác. Nếu người dân thấy nước đổi màu mà không biết báo cho ai hoặc báo rồi mà không ai xử lý, không ai trả lời thì quyền đó về bản chất là không tồn tại. Cho nên, vấn đề không phải là thiếu quy định mà là thiếu cơ chế để các quy định đó đi vào cuộc sống.

Do đó, phải có một quy trình rõ ràng: người dân phản ánh ở đâu, ai tiếp nhận, xử lý trong bao lâu, kết quả giải quyết thế nào. Không thể để thông tin của người dân rơi vào khoảng trống, cũng không thể để họ nói xong rồi thôi.

Tôi đánh giá cao các mô hình đang được triển khai ở TP Đà Nẵng, ở chỗ lần đầu tiên, người dân không chỉ cảm nhận mà còn đo được các chỉ số môi trường. Đây là một sự thay đổi rất lớn bởi nếu dân nói “nước bẩn” suông suông thì dễ bị xem là cảm tính, nhưng khi họ có số liệu, có ghi chép thì lúc đó, tiếng nói của họ có cơ sở, có thể kiểm chứng.

Nhìn rộng ra, cộng đồng chính là một mạng lưới quan trắc rộng khắp mà không một hệ thống nào có thể thay thế được. Vấn đề là chúng ta có tận dụng được mạng lưới đó hay không. Nhưng nếu cho người dân đo rồi để đó thì không có ý nghĩa gì. Dữ liệu cộng đồng chỉ có giá trị khi được sử dụng, tức là phải có cơ chế tiếp nhận, phân tích và phản hồi cho người dân.

Một vấn đề nữa là cách chúng ta nhìn nhận vai trò của người dân. Thay vì coi họ là đối tượng chịu tác động thì nên đặt họ vào vị trí chủ thể tham gia. Khi người dân có công cụ, có kiến thức, họ sẽ chủ động hơn rất nhiều. Họ không chỉ phản ánh mà còn tự điều chỉnh hành vi của mình. Cho nên, bảo vệ môi trường nước không chỉ là câu chuyện kỹ thuật mà là câu chuyện của cách tổ chức, phân chia trách nhiệm, trao quyền.

Không thể giữ sông bằng những báo cáo trên giấy. Muốn giữ được sông, phải có con người. Phải có những người sống cùng dòng sông đó, hiểu nó, theo dõi nó và lên tiếng khi nó có vấn đề.

Dự án chỉ là một sự kích hoạt. Chúng ta làm dự án này để khởi đầu cho một chương trình dài hơi chứ không phải khi dự án dừng lại thì mọi hoạt động cũng dừng theo. Theo tôi, thước đo lớn nhất không phải là trong thời gian dự án, chúng ta đã làm được những gì mà điều quan trọng nhất là sau dự án, chúng ta sẽ bảo vệ môi trường như thế nào.

Sau khi dự án kết thúc, vai trò của chính quyền địa phương là rất quan trọng. Phải có cơ chế rõ ràng, có nhiệm vụ cụ thể và có nguồn lực để cấp cơ sở tiếp tục duy trì những gì mà dự án đã khởi tạo. Nếu không có phần tiếp nối đó, mọi kết quả rất dễ bị đứt gãy. Cần làm cho những kiến thức và cách làm từ dự án trở thành tập quán sản xuất, sinh hoạt hằng ngày của người dân. Như thế mới bền vững.

Nguyễn Bá Sơn - Chủ tịch Hội Luật gia TP Đà Nẵng

 

news_is_not_ads=
TIN MỚI