Việc chuyển bảo tàng, di tích từ không gian lưu giữ sang không gian sáng tạo không còn là câu chuyện thí điểm hay dự án mà cần được triển khai rõ ràng để hiện thực hóa tinh thần Nghị quyết 80-NQ/TW. Điều này đòi hỏi sự thay đổi trong cách nhìn: hiện vật và tư liệu không chỉ là giá trị cần bảo tồn mà còn là chất liệu để phát triển các sản phẩm văn hóa. Khi được khai thác đúng cách, bảo tàng và di tích mới có thể phát huy giá trị và tham gia vào chuỗi giá trị của công nghiệp văn hóa. Bài 1: Di sản bước vào cuộc chơi trải nghiệm Bài 2: Biến quá khứ thành trải nghiệm |
Từ điểm sáng rời rạc đến hệ sinh thái chung
Phóng viên: Thưa ông, dù các bảo tàng, di tích đã có một số hoạt động trải nghiệm hấp dẫn nhưng vẫn thiếu đồng đều giữa các địa phương. Nguyên nhân cần được nhìn nhận ra sao?
Phó giáo sư, tiến sĩ Bùi Hoài Sơn: Điều đáng mừng là chúng ta đã bước đầu nhìn thấy một chuyển động mới trong cách tiếp cận di sản. Một số mô hình như tour đêm ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Giải mã Hoàng thành Thăng Long, các chương trình trải nghiệm tại di tích nhà tù Hỏa Lò… cho thấy khi di sản được kể lại bằng ngôn ngữ mới, công nghệ mới cùng cảm xúc và sự tương tác, công chúng, đặc biệt là người trẻ, sẵn sàng đến gần hơn với lịch sử và văn hóa dân tộc.

Tuy nhiên, sự chuyển động đó vẫn như những điểm sáng cục bộ hơn là một diện mạo phát triển thống nhất. Theo tôi, nguyên nhân đầu tiên là nhiều nơi vẫn tiếp cận di sản theo tư duy gìn giữ hiện vật, bảo vệ không gian, duy trì hoạt động theo lối cũ. Trong khi đó, trải nghiệm hóa di sản đòi hỏi bảo tồn để phát huy, gìn giữ để lan tỏa và lưu giữ quá khứ để đối thoại với hiện tại. Khi tư duy quản lý chưa thực sự thay đổi, di sản rất khó bước ra khỏi trạng thái trưng bày để trở thành một không gian sống động.
“Di sản không khó tiếp cận, vấn đề là chúng ta có biết cách đánh thức giá trị ấy hay không”. Phó giáo sư, tiến sĩ Bùi Hoài Sơn |
Nguyên nhân thứ hai là sự chênh lệch đáng kể giữa các địa phương về nguồn lực, năng lực quản trị và chất lượng nhân sự. Vì vậy, cùng một di sản, có nơi trở thành điểm đến hấp dẫn, có nơi ít được biết đến.
Nguyên nhân thứ ba là thiếu một cơ chế liên kết đủ mạnh giữa văn hóa, du lịch, giáo dục, công nghệ và thị trường. Một sản phẩm trải nghiệm di sản hấp dẫn cần câu chuyện, mỹ thuật, âm thanh, ánh sáng, công nghệ số, dịch vụ du lịch, truyền thông và cả dữ liệu công chúng. Khi các mắt xích này chưa kết nối thành một chuỗi giá trị, khó tránh khỏi tình trạng rời rạc, manh mún.
Chúng ta đang thiếu một nền tảng phát triển mang tính hệ thống để các bảo tàng, di tích trên cả nước cùng bước vào một quỹ đạo mới. Chưa có nền tảng ấy, sự phát triển sẽ còn phụ thuộc nhiều vào từng địa phương, từng đơn vị, khó tạo thành một xu thế mạnh, bền vững và có sức lan tỏa.
Biến di sản thành tài sản sống
* Trong bối cảnh nhiều đơn vị vẫn phải tự xoay xở, theo ông, cần cơ chế nào để vừa giữ sự linh hoạt vừa tạo hệ sinh thái trải nghiệm di sản kết nối toàn quốc?
- Chúng ta không cần một mô hình cứng nhắc cho tất cả địa phương mà là một khung định hướng quốc gia đủ mở để khuyến khích sự sáng tạo, đủ rõ để tạo sự kết nối. Di sản mỗi nơi mỗi khác, bản sắc mỗi địa phương một khác, công chúng mỗi vùng miền cũng có những nhu cầu khác nhau. Chuẩn hóa một cách máy móc sẽ làm nghèo đi sự đa dạng. Nhưng nếu buông hoàn toàn cho từng nơi tự xoay xở, rất dễ dẫn đến tình trạng mạnh ai nấy làm, nơi bứt phá, nơi giậm chân.
 |
| Vietcharm culture & dining show - trải nghiệm đa giác quan, nơi ẩm thực và nghệ thuật biểu diễn cùng nhau kể câu chuyện di sản và văn hóa Việt Nam - Nguồn ảnh: Vietcharm culture & dining show |
Vì thế, cần có một định hướng tầm quốc gia về trải nghiệm hóa di sản, khẳng định rõ bảo tàng, di tích không chỉ là nơi lưu giữ ký ức mà còn là thiết chế sáng tạo, không gian giáo dục công chúng và là một bộ phận quan trọng trong hệ sinh thái công nghiệp văn hóa. Tinh thần này phù hợp với Nghị quyết 80-NQ/TW, khi văn hóa được xác định là nguồn lực nội sinh, là động lực phát triển.
Từ định hướng đó, cần xây dựng một bộ công cụ chính sách mang tính hỗ trợ. Nhà nước có thể ban hành các tiêu chí khung cho sản phẩm trải nghiệm di sản: bảo đảm tính chân thực của giá trị lịch sử, có chiều sâu giáo dục, tính thẩm mỹ, khả năng tiếp cận đa dạng công chúng, yếu tố số hóa và cơ chế đánh giá hiệu quả xã hội. Trong khung ấy, từng địa phương vẫn được quyền sáng tạo theo cách riêng.
Bên cạnh đó, cần một cơ chế tài chính và hợp tác linh hoạt hơn. Nếu chỉ trông chờ vào ngân sách nhà nước, rất khó tạo ra các sản phẩm mới có chất lượng cao. Phải mở đường cho hợp tác công - tư, đồng thời đào tạo lại đội ngũ theo hướng liên ngành để họ vừa giỏi bảo tồn vừa hiểu công chúng, truyền thông và thị trường.
Một điểm rất quan trọng nữa là xây dựng mạng lưới kết nối quốc gia về trải nghiệm di sản. Tôi hình dung về một bản đồ trải nghiệm di sản Việt Nam trong tương lai, nơi các điểm đến được kết nối với nhau về truyền thông, dữ liệu, lịch sự kiện, sản phẩm giáo dục và tuyến du lịch. Khi đó, di sản sẽ trở thành một hệ sinh thái chung, vừa giữ bản sắc từng nơi vừa có sức mạnh của sự liên kết.
*Làm thế nào để kết nối di sản với đời sống, nâng tầm bảo tàng, di tích thành điểm đến văn hóa, du lịch hấp dẫn, qua đó đóng góp thực chất cho công nghiệp văn hóa, thưa ông?
- Điều quan trọng nhất là phải thay đổi cách nhìn: di sản không chỉ là phần còn lại của quá khứ để ngắm nhìn. Nó phải trở thành một tài sản sống, có thể đối thoại với con người hôm nay, nuôi dưỡng cảm xúc hôm nay và gợi mở giá trị cho tương lai.
Muốn vậy, trước hết phải đặt công chúng vào trung tâm. Cần nghiên cứu kỹ nhu cầu của người trẻ, gia đình, trường học, khách quốc tế. Những mô hình đã triển khai cho thấy khi được dịch sang ngôn ngữ trải nghiệm, di sản có thể mở ra cánh cửa rộng hơn với công chúng đương đại.
“Một bảo tàng hay một di tích chỉ thực sự có sức sống khi người dân đến đó không chỉ để xem cho biết mà còn để cảm, hiểu, tự hào, suy ngẫm và muốn trở lại”. Phó giáo sư, tiến sĩ Bùi Hoài Sơn |
Di sản cũng cần được đặt vào chuỗi giá trị rộng hơn của công nghiệp văn hóa. Bên cạnh nội dung tham quan, cần phát triển các dịch vụ sáng tạo đi kèm: giáo dục trải nghiệm, biểu diễn nghệ thuật, thiết kế quà tặng văn hóa, sản phẩm số, ấn phẩm sáng tạo, không gian tương tác… Một di tích hay bảo tàng cần tạo ra nhiều lớp giá trị: giáo dục, truyền thông, du lịch, thương hiệu và cả giá trị kinh tế.
Đồng thời, cần gắn trải nghiệm di sản với chuyển đổi số mạnh mẽ hơn. Số hóa không chỉ là đưa hiện vật lên mạng, mà là tạo ra một không gian tiếp cận mới: từ đặt vé trực tuyến, thuyết minh đa ngôn ngữ đến ứng dụng thực tế ảo, kho dữ liệu mở và các hình thức kể chuyện số. Khi đó, bảo tàng và di tích vừa tồn tại ở không gian vật lý vừa hiện diện trong đời sống số.
Nếu làm tốt, bảo tàng và di tích của Việt Nam hoàn toàn có thể trở thành những điểm nhấn quan trọng của du lịch văn hóa và những hạt nhân của công nghiệp văn hóa. Không chỉ thu hút khách, tạo doanh thu và việc làm, di sản còn góp phần bồi đắp bản sắc, giáo dục thẩm mỹ và nâng cao sức mạnh mềm quốc gia. Di sản chỉ thực sự sống khi hiện diện trong trải nghiệm của cộng đồng chứ không nằm yên trong tủ kính.
Thảo Vân (thực hiện)