Vừa qua, Luật Bảo vệ người giúp việc gia đình tại Indonesia đã chính thức công nhận người giúp việc là người lao động chuyên nghiệp và được luật pháp bảo vệ bằng luật riêng sau hơn 20 năm tranh luận. Điều đó đặt ra câu hỏi: Đã đến lúc Việt Nam nên xem giúp việc là một nghề chuyên nghiệp?
CHỦ NHÀ VÀ NGƯỜI GIÚP VIỆC CÙNG ĐỐI MẶT RỦI RO
Em D.B.N. - sinh năm 2011, ngụ phường Thuận Giao, TPHCM - làm người giúp việc tại nhà. Chỉ vài tháng sau khi nhận giữ trẻ thuê, em bị cha con nhà chủ xâm hại tình dục và hạ sinh mộ t bé gái vào ngày 13/4/2026.
Áp lực chủ - tớ là một trong những nguyên nhân gây sợ hãi, khiến N. không dám hé răng chuyện bị chủ xâm hại tình dục nhiều lần. Em nghẹn ngào: “Chú và ông đều cấm con nói ra. Bị vậy, con vẫn phải tiếp tục giữ em bé để nhận được 100.000 đồng mỗi ngày”.
 |
| Cán bộ địa phương phường Thuận Giao hỗ trợ gia đình em D.B.N. - cô bé đi giúp việc bị chủ xâm hại - Nguồ n ảnh: Hội LHPN phường Thuận Giao |
Năm 2011, chị N.T.V. - 54 tuổi, quê An Giang - lên TPHCM làm ngườ i giúp việc để nuôi 2 con ăn học. Hơn 10 năm trong nghề, kiể u chủ nhà nào chị cũng từng gặp qua. Thế nhưng, có một trải nghiệm khiến chị phải bỏ nghề, chấp nhận mất gần nửa tháng lương. “Đồ ăn thừa họ giữ lại 3-4 ngày, kêu người giúp việc ăn cho hết. Rửa chén tốn bao nhiêu nước, giặt đồ tốn bao nhiêu xà bông... cũng bị canh me kỹ. Tôi thấy ngột ngạt nên xin nghỉ, chủ nhà không trả lương. Sau đó, tôi chuyển qua làm lao công chung cư. Tuy cực nhưng ở đó tôi có hợp đồng lao động, có ngày nghỉ phép, có bảo hiểm, có thưởng, có công đoàn để chăm lo quyền lợi...” - chị V. kể.
Chị Lê Thu P. - 26 tuổi, quê Lâm Đồng - đi chăm em bé từ năm 17 tuổi. Thấy ông chủ hay lại gần cưng nựng con nhỏ, bà chủ nổi cơn ghen, đuổi việc chị . Người dì lên tiếng bảo vệ cháu cũng bị cho nghỉ việc. Vụ án chủ nhà đầu độc người giúp việc ở TP Hà Nội từng gây rúng động. Nạn nhân là chị Đ.T.T. (quê Hưng Yên). Chị đi làm chắt chiu được 55 triệu đồng. Khi phát hiện bà chủ lừa lấy hết tiền, chị nghỉ việc và quyết liệt đòi tiền. Bà chủ đã tìm về quê chị, dùng xyanua đầu độc đến 3 lần nhưng chị may mắn thoát chết.
Còn C.K. (ngụ TPHCM) vẫn chưa quên sự cố trong lần thuê người giúp việc gần đây. Tính chị cẩn thận, muốn tìm người có nhân thân rõ ràng và chuyên nghiệp nên sử dụng ứng dụng giúp việc nhà. Chị rất tin tưởng khi ứng dụng cam kết bồi thường thiệt hại nếu có mất mát, sự cố. Thế nhưng, khi 1 lượng vàng của chị không cánh mà bay, mọi cam kết chỉ là… lý thuyết. Chị kể: “Dù camera ghi lại rõ cảnh người giúp việc cầm túi xách của tôi (bên trong có vàng) rời khỏi nhà nhưng người giúp việc nói “cầm nhầm”. Công ty cho thuê ngườ i giúp việc rất vô trách nhiệm, không hợp tác giải quyết. Họ yêu cầu người giúp việc im lặng và luật sư của họ nói rằng “Khi nào có bằng chứng cất vàng vào túi thì giải quyết”. Dù công an đã xác minh hóa đơn mua vàng, số tiền tôi chuyển khoản nhưng phí a công ty vẫn cho rằng việc xách túi đồ của chủ nhà đi chỉ là nhầm lẫn quy trình, sai sót trong công việc. Họ đề nghị bồi thường cho tôi bằng một buổi dọn dẹp nhà khác để “làm đúng quy trình”.
Giữa tháng 5/2026, Tòa án nhân dân khu vực 3 Hà Nội đã tuyên phạt bị cá o Trương Thị Bắc - 46 tuổi, quê Thanh Hóa - 2 năm tù về tội hành hạ người khác. Theo cáo trạng, giữa tháng 11/2025, cụ H.T.N. - 82 tuổi - bị đột quỵ. Trong thời gian đó , gia đình thuê bà Bắc chăm sóc với mức lương 11 triệu đồng/tháng. Một hôm, người nhà phát hiện vùng tai và mắt phải của cụ N. bầm tím, tụ máu, trán sưng đỏ. Khi bị hỏi, bà Bắc nói cụ bị ngã. Gia đình kiểm tra camera, phát hiện bà Bắc nhiều lần đánh đập, hành hạ cụ nên trình báo công an.
 |
| Chị Hoàng N. (ngụ Cà Mau) lên TPHCM nuôi bệnh thuê, từng bị bạo hành, sàm sỡ mà vẫn phải cắn răng nhịn nhục - ẢNH: DIỆU HIỀN |
LUẬT HÓA ĐỂ TRÁNH RỦI RO CHO 2 PHÍA
Thị trường ngườ i giúp việc nhà tại các thành phố lớn hiện vẫn là mảnh đất màu mỡ nhưng vận hành theo kiểu tự phát, dựa vào lòng tin và sự may rủi.
| “Bộ luật Lao động 2019 có hẳn một mục riêng quy định về lao động là người giúp việc gia đình hiện nay người dân vẫn tỏ ra thờ ơ, ít quan tâm”. Luật sư NGUYỄN HỒNG LÂM - Trưởng văn phòng Luật sư Đông Du, Đoàn Luật sư TPHCM |
Từ thực tế đó, cả chủ nhà lẫn người giúp việc đều không thực hiện đầy đủ các quy định: ký hợp đồng bằng văn bản; đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, có giờ nghỉ và các chính sách đảm bảo quyền lợi người lao động. “Để tránh rủi ro cho cả 2 phía, giúp việc cần được nhìn nhận là một ngành nghề lao động chính thức, có những chế tài pháp lý rõ ràng, những bản hợp đồng lao động chuẩn xác và sự quản lý nghiêm túc từ các cơ quan chức năng. Chỉ khi quyền lợi và trách nhiệm của cả chủ nhà lẫn người lao động được ràng buộc bằng pháp luật, những góc khuất, rủi ro mới có thể được kiểm soát” - luật sư Nguyễn Hồng Lâm nêu quan điểm.
THÙY DƯƠNG - NHÃ CHÂN - DIỆU HIỀN
Nghiên cứu xây dựng luật chi tiết về lao động giúp việc gia đình
Lao động giúp việc gia đình là loại hình lao động đặc thù, được quy định trong Bộ luật Lao động 2012 (điều 179), Nghị định 27/2014/ND-CP. Bộ luật Lao động năm 2019, điều 161, khoản 1 quy định “Lao động là người giúp việc gia đình là người lao động làm thường xuyên các công việc trong gia đình của một hoặc nhiều hộ gia đình”.
Để bảo vệ quyền người lao động là người giúp việc gia đình, pháp luật quy định: “Người lao động và người sử dụng lao động thỏa thuận về tiền lương, thưởng và thực hiện trả lương, thưởng theo quy định; trong đó tiền lương của người lao động thỏa thuận trong hợp đồng lao động bao gồm mức lương theo công việc, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác nếu có. Mức lương theo công việc bao gồm cả chi phí ăn, ở của người lao động tại gia đình người sử dụng lao động (nếu có), không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định. Người sử dụng lao động và người lao động thỏa thuận mức chi phí ăn, ở hằng tháng của người lao động (nếu có), tối đa không quá 50% mức lương theo công việc ghi trong hợp đồng lao động”.
 |
| Phó giáo sư, tiến sĩ Phan Thị Lan Hương - Ảnh do nhân vật cung cấp |
Thế nhưng, để thực hiện những quy định trên, còn rất nhiều rào cản, dẫn đến nguy cơ vi phạm quyền của người giúp việc. Thứ nhất, số lượng các hợp đồng ký kết trên thực tế thường rất ít nếu người thuê không sử dụng công ty cung cấp dịch vụ. Quan hệ tuyển dụng thường dựa trên việc giới thiệu các mối quan hệ quen biết truyền thống như người quen, cùng quê.
Dù pháp luật quy định việc ký kết hợp đồng lao động bắt buộc như một điều kiện pháp lý đảm bảo quyền lợi của người giúp việc, trên thực tế, chưa có cơ chế kiểm tra, giám sát việc ký kết hợp đồng lao động. Hơn nữa, nguy cơ lách luật rất cao bởi người sử dụng lao động thường muốn giảm bớt các nghĩa vụ tài chính như chi phí bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, thời gian làm việc, nghỉ ngơi, nghỉ việc riêng có hưởng lương...
Thứ hai, người lao động giúp việc gia đình thường có trình độ nhận thức hạn chế, thiếu kiến thức pháp lý. Trong môi trường giúp việc gia đình khép kín, họ có nguy cơ bị bạo lực, lạm dụng tình dục cao hơn. Hơn nữa, quan hệ phụ thuộc do việc bị tạm giữ tiền lương cũng dẫn đến việc họ lo ngại, không dám lên tiếng bở i sợ mất tiền lương cho thời gian đã làm việc...
Thứ ba, thiếu một thiết chế giám sát hợp lý để bảo vệ quyền lợi người lao động giúp việc gia đình trước các nguy cơ bị vi phạm quyền và lợi ích hợp pháp. Người lao động giúp việc gia đình không giao kết hợp đồng lao động sẽ không đủ căn cứ pháp lý, bằng chứng để khởi kiện yêu cầu bảo vệ quyền lợi khi bị xâm phạm. Thậm chí, nhiều ngườ i lao động giúp việc gia đình ở độ tuổi thanh thiếu niên không thể tự mình yêu cầu cơ quan có thẩm quyền bảo vệ nếu không có các dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Việc không giao kết hợp đồng lao động cũng có những rủi ro nhất định cho người sử dụng lao động. Song, trong mối quan hệ bất bình đẳng này, người giúp việc gia đình thường là nhóm yếu thế. Vấn đề đặt ra là khung pháp luật hiện hành đã bảo vệ thực chất quyền của người lao động giúp việc gia đình, xóa bỏ các rào cản, thách thức trong thực hiện giao kết hợp đồng lao động hiện nay chưa.
Trước yêu cầu xây dựng và hoàn thiện pháp luật, việc nghiên cứu xây dựng luật chi tiết về lao động giúp việc gia đình là hết sức cần thiết thay cho luật khung như hiện nay. Bởi lẽ, đây là mối quan hệ đặc thù, có rất nhiều góc khuất, gây rủi ro cho người lao động giúp việc.
Việc xây dựng khung pháp luật toàn diện nhằm quy định chi tiết về cơ chế tuyển dụng, ví dụ tuyển dụng qua bên thứ ba là nhà cung cấp dịch vụ; cơ chế kiểm tra, giám sát việc giao kết hợp đồng lao động; quy định các dịch vụ hỗ trợ người lao động giúp việc gia đình…
Luật này cũng cần có những quy định đáp ứng bối cảnh phát triển công nghệ số khi các nền tảng cung cấp dịch vụ lao động trực tuyến phát triển.
DIỆU HIỀN (ghi)
Ý kiến:
THAY ĐỔI ĐỊNH KIẾN XEM GIÚP VIỆC NHÀ LÀ CÔNG VIỆC TẠM BỢ
Các quy định pháp luật về người giúp việc gia đình khó đi vào cuộc sống do xã hội vẫn chưa xem giúp việc như một nghề nghiệp mang tính chuyên biệt và chuyên nghiệp như các ngành nghề khác. Đa số người thuê và người làm đều nghĩ đây là công việc tạm bợ. Vì vậy, việc đòi hỏi chính quyền địa phương tăng cường cơ chế giám sát thực thi các quy định luật khá khó khăn.
 |
| Luật sư Nguyễn Hồng Lâm - ẢNH: HL |
Nếu luật hóa các quy định về nghề giúp việc nhà như Indonesia thì lợi ích chắc chắn sẽ thuộc về cả 2 phía. Thuận lợi dễ thấy nhất là khi 2 bên ký kết hợp đồng lao động bằng văn bản, khái niệm người lao động và người sử dụng lao động sẽ chính thức phát sinh, mọi tranh chấp lao động sẽ được giải quyết cụ thể và xác đáng theo quy định của Bộ luật Lao động. Không những vậy, vì quyền lợi và nghĩa vụ của các bên được quy định rõ trong luật, 2 bên có cơ sở tự điều chỉnh hành vi ứng xử, giúp quan hệ lao động thuận hòa, bền lâu, đáp ứng được nhu cầu của cả 2 phía.
Bên cạnh việc luật hóa, cần đẩy mạnh tuyên truyền trong nhân dân, quy định rõ ràng về thẩm quyền của chính quyền địa phương trong việc giám sát và thi hành luật. Luật sư NGUYỄN HỒNG LÂM - Trưởng văn phòng Luật sư Đông Du, Đoàn Luật sư TPHCM |
THIẾT LẬP VĂN HÓA LAO ĐỘNG MINH BẠCH, TRÁCH NHIỆM
Việc Indonesia chính thức công nhận người giúp việc gia đình là người lao động là bước tiến rất đáng suy nghĩ đối với các quốc gia châu Á, trong đó có Việt Nam. Đằng sau đó không chỉ là câu chuyện pháp lý mà sâu xa hơn là câu chuyện về phẩm giá con người và cách xã hội nhìn nhận công việc này.
Ở Việt Nam, tâm lý xem nhẹ người giúp việc có lẽ xuất phát từm xã hội phong kiến Á Đông, đặc biệt dưới ảnh hưởng của Nho giáo, nơi gia đình được tổ chức theo mô hình tôn ti chặt chẽ: cha - con, chủ - tớ. Người giúp việc trong nhiều trường hợp không được xem như người lao động mà là một thành phần phụ thuộc vào gia đình chủ nhà.
Mặt khác, nhiều quan hệ lao động lại được “gia đình hóa”. Người giúp việc thường được xem như “người trong nhà” - nghe có vẻ gần gũi nhưng đôi khi lại làm ranh giới quyền lợi trở nên mơ hồ. Người giúp việc thườ ng đượ c kỳ vọng phải hy sinh, tận tụy vô điều kiện mà không có khái niệm rõ ràng về giờ giấc, bảo hiểm hay quyền riêng tư. Còn một nguyên nhân khác: quan niệm xã hội đề cao lao động trí óc hơn lao động phục vụ nên giúp việ c dễ bị xem là công việc không cần trình độ.
 |
| Thạc sĩ Nguyễn Hiếu Tín - Ảnh do nhân vật cung cấp |
Cần thay đổi cách nhìn về giá trị của lao động. Người giúp việc gia đình không chỉ làm việc nhà mà đang góp phần duy trì sự vận hành của một gia đình. Vì vậy, xã hội cần nhìn nhận họ như những người cung cấp dịch vụ lao động chuyên nghiệp chứ không phải… người hầu.
Văn hóa Việt Nam vốn có nhiều nền tảng tích cực để thay đổi nhận thức này (đạo lý yêu thương con người, tinh thần nghĩa tình, truyền thống lá lành đùm lá rách…). Cần chuyển những giá trị đạo đức từ lời nói sang cách ứng xử cụ thể: tôn trọng nhân phẩm người giúp việc, dùng ngôn ngữ lịch sự, có ranh giới công việc, trả công xứng đáng, quan tâm đến đời sống tinh thần và quyền nghỉ ngơi của họ.
Ngoài ra, cần thoát khỏi tâm lý ban ơn. Nhiều người vẫn nghĩ cho người giúp việc ăn ở trong nhà là một sự ưu ái. Nhưng trong quan hệ lao động văn minh, đó là mối quan hệ bình đẳng về nhân phẩm.
Người giúp việc cần được tôn trọng, đồng thời cũng cần ý thức về cam kết nghề nghiệp, đạo đức công việc và sự tin cậy. Ngược lại, gia chủ cần ứng xử văn minh, rõ ràng, công bằng.
Xã hội văn minh không nằm ở chỗ tuyệt đối hóa bên nào mà là tạo ra một mối quan hệ lao động vừa có tình người, vừa có nguyên tắc.
Thạc sĩ NGUYỄN HIẾU TÍN
(Khoa Khoa học xã hội nhân văn, Trường dại học Tôn Đức Thắng)
NHÃ CHÂN (ghi)