Theo PGS.TS Nguyễn Đình Thọ - Phó viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách Nông nghiệp và Môi trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) - quy mô kinh tế xanh của Việt Nam còn khá khiêm tốn. Năm 2020, kinh tế xanh chỉ chiếm khoảng 2% quy mô nền kinh tế. Những năm gần đây, lĩnh vực này tăng trưởng khoảng 12-13% mỗi năm và hiện quy mô ước đạt khoảng 4-4,5%.
 |
| Các chuyên gia, doanh nghiệp tham dự hội thảo - Ảnh: Nhật Thịnh |
Tuy nhiên, tỉ trọng này vẫn còn thấp so với xu hướng phát triển trên thế giới, trong khi quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa của Việt Nam vẫn chủ yếu dựa trên mô hình kinh tế truyền thống. Vì vậy chuyển đổi xanh cần được nhìn nhận là quá trình chuyển đổi của toàn bộ nền kinh tế chứ không chỉ tập trung vào các ngành được xem là "xanh". Ngay cả những lĩnh vực có mức phát thải cao như xi măng, thép, nhôm hay phân bón vẫn có thể thực hiện chuyển đổi nếu áp dụng công nghệ phù hợp để giảm phát thải.
Để thúc đẩy quá trình này, Trung ương, Quốc hội và Chính phủ đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, trong đó có cơ chế hỗ trợ lãi suất 2% cho các hoạt động chuyển đổi xanh. Đồng thời, Việt Nam đang xây dựng Quyết định 21 về Phân loại xanh (Green Taxonomy) nhằm tạo hành lang pháp lý cho tài chính xanh. Bộ tiêu chí này được tham khảo từ Liên minh châu Âu (EU), Ngân hàng Thế giới (WB) và nhiều tiêu chuẩn quốc tế khác. Điểm đáng chú ý là phạm vi phân loại xanh của Việt Nam không chỉ bao gồm kinh tế xanh mà còn mở rộng sang kinh tế tuần hoàn và ESG.
Dù vậy, ESG hiện vẫn là nội dung khó nhất trong quá trình xây dựng chính sách. Một doanh nghiệp có báo cáo ESG chưa đồng nghĩa với việc đáp ứng đầy đủ các tiêu chí của kinh tế xanh hay kinh tế tuần hoàn. Do đó, việc xác định đúng đối tượng được hưởng các chính sách ưu đãi, đặc biệt là hỗ trợ lãi suất, vẫn cần tiếp tục hoàn thiện để chính sách đến đúng doanh nghiệp và người dân.
 |
| TS Phạm Viết Thuận - Viện trưởng Viện Kinh tế Tài nguyên và Môi trường TPHCM |
Đồng quan điểm, TS Phạm Viết Thuận - Viện trưởng Viện Kinh tế Tài nguyên và Môi trường TPHCM - cho rằng, trước mắt cần ưu tiên thúc đẩy kinh tế tuần hoàn trong quản lý chất thải và tháo gỡ các rào cản đối với giao thông xanh.
Cụ thể, đối với giao thông xanh, tiến trình chuyển đổi hiện đang gặp 3 nút thắt lớn gồm hạ tầng điện, nguồn vốn đầu tư và hành lang pháp lý. Nhiều người cho rằng chỉ cần đủ nguồn điện là có thể điện hóa giao thông, nhưng rào cản thực sự nằm ở hệ thống truyền tải và khả năng điều phối phụ tải của lưới điện. Nếu toàn bộ phương tiện tại TPHCM chuyển sang xe điện, nhu cầu điện có thể lên tới khoảng 46.000 MW, tạo áp lực rất lớn lên hệ thống hiện hữu. Trong khi đó, các trạm biến áp tại khu vực nội đô không còn nhiều công suất dự phòng để phục vụ các cụm trạm sạc mật độ cao, làm gia tăng nguy cơ quá tải lưới điện và mất an toàn cháy nổ nếu hạ tầng không được đầu tư đồng bộ.
Theo TS Phạm Viết Thuận, trong giai đoạn đầu nên ưu tiên chuyển đổi đối với các nhóm phương tiện có thể quản lý tập trung như xe buýt, xe giao hàng và taxi. Nếu thực hiện được 3 nhóm phương tiện này, lượng phát thải CO₂ trên địa bàn TPHCM có thể giảm khoảng 80%.
Cùng với giao thông, nông nghiệp cũng là lĩnh vực đang chịu áp lực lớn trong quá trình chuyển đổi xanh. Ông Thanyachat Auttanukune - Giám đốc Phụ trách arketing và các ngành kinh doanh mới, Công ty Cổ phần Chăn nuôi C.P. Việt Nam - cho biết, thế giới dự kiến sẽ có khoảng 10 tỉ người vào năm 2050, kéo theo nhu cầu lương thực tăng khoảng 60% so với hiện nay. Dù vậy, nghịch lý là lĩnh vực nông nghiệp - thực phẩm cũng tạo ra khoảng 25-30% lượng phát thải khí nhà kính toàn cầu, sử dụng khoảng 70% nguồn nước ngọt và là một trong những nguyên nhân gây suy giảm đa dạng sinh học. Do đó bài toán hiện nay không phải lựa chọn giữa tăng sản lượng hay bảo vệ môi trường, mà là tìm ra phương thức sản xuất hiệu quả và bền vững hơn.
“Ở góc độ doanh nghiệp, chúng tôi đang triển khai chuyển đổi xanh trên toàn bộ chuỗi giá trị Feed - Farm - Food với mục tiêu đạt phát thải ròng bằng 0 (Net Zero) vào năm 2050. Lộ trình này được xây dựng trên 3 trụ cột gồm nguồn cung bền vững (Smart Sourcing), sản xuất thông minh (Smart Production) và tiêu dùng bền vững (Smart Consumption)” - ông chia sẻ.
Cụ thể, C.P. Việt Nam đã đầu tư hệ thống điện mặt trời với tổng công suất khoảng 51 MWp, nâng tỉ lệ sử dụng năng lượng tái tạo lên khoảng 34% và chấm dứt sử dụng than từ năm 2021. Đồng thời triển khai nhiều giải pháp tiết kiệm nước, phát triển khí sinh học từ chất thải chăn nuôi, tối ưu thiết kế bao bì để giảm lượng nhựa sử dụng, thay thế túi phân hủy oxo bằng túi phân hủy sinh học và phối hợp với PRO Việt Nam thực hiện trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR), qua đó đã thu gom và xử lý hơn 1.400 tấn rác thải nhựa.
C.P. Việt Nam cũng mở rộng yêu cầu ESG tới chuỗi cung ứng khi đánh giá rủi ro đối với khoảng 500 nhà cung cấp, đồng thời đào tạo hơn 230 đối tác để thích ứng với các tiêu chuẩn mới. Song song đó, doanh nghiệp đầu tư phát triển nguồn nhân lực với hơn 30.000 lượt đào tạo, trên 100.000 giờ học và khoảng 4.000 nhân viên được đào tạo về AI.
Về lâu về dài, theo ông Thanyachat Auttanukune, chuyển đổi xanh không thể được thực hiện bởi một doanh nghiệp đơn lẻ mà cần sự phối hợp của Nhà nước, doanh nghiệp, giới nghiên cứu, các tổ chức tài chính và người tiêu dùng. Chỉ khi toàn bộ chuỗi giá trị cùng tham gia, từ hoàn thiện chính sách, phát triển nguồn vốn xanh, ứng dụng công nghệ đến thay đổi hành vi tiêu dùng, mục tiêu tăng trưởng xanh và phát thải ròng bằng 0 mới có thể được đẩy nhanh và từng bước trở thành hiện thực.
Mai Ca