KỶ NIỆM 115 NĂM NGÀY BÁC HỒ RA ĐI TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC (5/6/1911 - 5/6/2026) - Từ chuyến tàu lịch sử đến khát vọng vươn mình của dân tộc

05/06/2026 - 06:27

PNO - Chiều 5/6/1911, từ bến cảng Nhà Rồng (Sài Gòn), với tên gọi Văn Ba, người thanh niên 21 tuổi Nguyễn Tất Thành bước lên con tàu Amiral Latouche-Tréville, bắt đầu hành trình vượt đại dương. Quyết định ra đi tìm đường cứu nước của người thanh niên ấy là một bước ngoặt lịch sử khởi đầu cho quá trình hình thành con đường giải phóng dân tộc và xác lập vị thế quốc gia trên bản đồ thế giới.

Hoạt cảnh tái hiện sự kiện chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước vào ngày 5/6/1911 trên tàu Amiral Latouche-Tréville trong chương trình nghệ thuật “Chuyến tàu huyền thoại” diễn ra ngày 31/5/2024 - ẢNH: QUỐC THÁI
Hoạt cảnh tái hiện sự kiện chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước vào ngày 5/6/1911 trên tàu Amiral Latouche-Tréville trong chương trình nghệ thuật “Chuyến tàu huyền thoại” diễn ra ngày 31/5/2024 - ẢNH: QUỐC THÁI

Nhãn quan địa chính trị và tầm nhìn vượt thời đại

Để hiểu được ý nghĩa chiến lược trong quyết định của Bác, cần đặt hành động này vào bối cảnh khủng hoảng về đường lối cứu nước của lịch sử Việt Nam đầu thế kỷ XX. Lúc bấy giờ, các phong trào yêu nước đều rơi vào bế tắc. Sự thất bại của phong trào Cần Vương, Đông Du hay Duy Tân đã minh chứng cho những hạn chế trong tư duy của các bậc tiền bối.

Qua nghiên cứu thực tế, Người đánh giá xu hướng hợp tác với Nhật Bản của cụ Phan Bội Châu là nguy hiểm khi dựa vào một lực lượng đế quốc khác, còn con đường cải cách ôn hòa của cụ Phan Châu Trinh lại không khả thi khi kỳ vọng vào sự nhượng bộ của chính quyền thực dân.

Sự sắc sảo trong nhãn quan chính trị của Người thể hiện ở việc không lặp lại phương pháp của các nhà yêu nước đi trước. Nguyễn Tất Thành quyết định đi sang các nước phương Tây, cụ thể là đến nước Pháp. Người muốn tìm hiểu thực tế về sự mâu thuẫn giữa các giá trị “tự do, bình đẳng, bác ái” được thực thi ở chính quốc với chính sách cai trị thực dân ở thuộc địa.

Việc nghiên cứu rõ bản chất, thể chế chính trị và tư duy của đối phương là cơ sở để tìm ra phương pháp đấu tranh hiệu quả. Xuất phát điểm của hành trình này hoàn toàn dựa vào khả năng tự lực và ý chí cá nhân. Điều này càng làm nổi bật giá trị cốt lõi trong sức mạnh tư tưởng của Người: một nhãn quan chính trị độc lập, tự chủ và mang tính thực tiễn cao.

Bản lĩnh nơi xứ người

Trên con tàu Amiral Latouche-Tréville mang theo 3.436 tấn hàng cùng hàng trăm hành khách, Người làm phụ bếp với mức lương 45 franc/tháng. Cường độ lao động kéo dài từ 4g sáng đến 9g tối dưới những điều kiện khắc nghiệt của thời tiết và môi trường làm việc trên tàu.

Để duy trì cuộc sống và phục vụ mục tiêu hoạt động ở các quốc gia như Anh, Pháp, Người đã không nề hà làm nhiều việc: phụ bếp, cào tuyết, đốt lò, chụp ảnh, vẽ đồ mỹ nghệ và làm báo. Bên cạnh thời gian lao động, Người dành thời gian ban đêm để đọc sách, viết báo và tự học ngoại ngữ. Khối kiến thức thu được từ thực tiễn và sách báo là nền tảng để Người tiếp cận trực tiếp với các học thuyết chính trị tiến bộ ở châu Âu.

Qua việc hòa mình vào đời sống của giai cấp công nhân và nhân dân lao động ở các nước bản xứ, Người nhận ra rằng, ở đâu người lao động cũng bị chủ nghĩa thực dân bóc lột; cần giải phóng con người khỏi áp bức, bất công.

Sự định hình con đường cách mạng vô sản

Năm 1919, thay mặt Hội Những người yêu nước An Nam, Người gửi bản Yêu sách của nhân dân An Nam đến hội nghị Versailles. Việc các cường quốc hoàn toàn phớt lờ các nguyện vọng này giúp Người rút ra kết luận thực tế: các dân tộc thuộc địa không thể trông cậy vào lòng thương xót của tư bản chủ nghĩa mà phải tự đứng lên bằng thực lực của chính mình.

Bước ngoặt tư tưởng mang tính quyết định diễn ra vào tháng 7/1920, khi Nguyễn Ái Quốc đọc được bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I. Lênin. Bản luận cương đã giải quyết trọn vẹn câu hỏi về con đường và phương pháp giải phóng các dân tộc thuộc địa mà Người đang tìm kiếm.

Sự kiện này đánh dấu bước chuyển biến căn bản trong tư duy và đưa Người từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Mác - Lênin. Việc Người khẳng định con đường cách mạng vô sản là con đường cứu nước duy nhất đúng đắn cho Việt Nam đã chính thức định hình hướng đi mới cho phong trào giải phóng dân tộc sau nhiều thập niên khủng hoảng về đường lối.

Bảo tàng Hồ Chí Minh chi nhánh TPHCM được đặt ở bến Nhà Rồng để người dân tưởng nhớ và tìm hiểu về cuộc đời, sự nghiệp của Bác - ẢNH: THANH TÂM
Bảo tàng Hồ Chí Minh chi nhánh TPHCM được đặt ở bến Nhà Rồng để người dân tưởng nhớ và tìm hiểu về cuộc đời, sự nghiệp của Bác - ẢNH: THANH TÂM

Kiên trì cho ngày trở về và những quyết sách chiến lược

Từ sau năm 1920 đến trước khi về nước (năm 1941) là thời kỳ tư duy chiến lược của Nguyễn Ái Quốc được thể hiện rõ nét nhất thông qua các quyết sách chủ động, toàn diện trên cả 2 mặt: chính trị tư tưởng và tổ chức lực lượng. Đây là quá trình chuẩn bị khoa học, đặt nền móng vững chắc cho bước ngoặt lịch sử của cách mạng Việt Nam.

Về mặt chính trị tư tưởng, Người định hình đường lối cách mạng giải phóng dân tộc. Sau khi tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin, quyết sách chiến lược của Nguyễn Ái Quốc là truyền bá hệ tư tưởng lý luận này vào trong nước, nhưng không rập khuôn mà có sự vận dụng sáng tạo vào thực tiễn một nước thuộc địa.

Qua các bài viết trên các tờ báo cách mạng và đặc biệt là tác phẩm Đường Kách mệnh (1927), Người đã hệ thống hóa đường lối cách mạng giải phóng dân tộc thành một hệ thống luận điểm rõ ràng, dễ tiếp thu đối với phong trào yêu nước của nhân dân ta thời bấy giờ. Tư tưởng cốt lõi của Người trong giai đoạn này là khẳng định cách mạng thuộc địa không phụ thuộc thụ động vào cách mạng ở chính quốc mà có thể chủ động đứng lên giành thắng lợi trước để tự giải phóng.

Về mặt tổ chức lực lượng, Người kiến tạo hạt giống và thống nhất bộ máy lãnh đạo. Song song với chuẩn bị tư tưởng, Người trực tiếp xây dựng lực lượng cách mạng từ quy mô nhỏ đến hệ thống lớn. Năm 1925, tại Quảng Châu (Trung Quốc), Người thành lập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, mở các lớp huấn luyện chính trị để đào tạo thế hệ cán bộ cốt cán đầu tiên, tạo nguồn nhân sự trực tiếp phục vụ cho việc truyền bá lý luận trong nước.

Đỉnh cao của năng lực tổ chức lực lượng là quyết sách hợp nhất 3 tổ chức cộng sản thành một chính đảng duy nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 2/1930), chấm dứt hoàn toàn cuộc khủng hoảng về tổ chức lãnh đạo cách mạng kéo dài nhiều thập niên.

Sau 30 năm tích lũy lý luận và chuẩn bị thực tiễn ở nước ngoài, ngày 28/1/1941, Nguyễn Ái Quốc trở về nước, trực tiếp lãnh đạo cách mạng tại căn cứ địa Pác Bó, Cao Bằng. Sự hiện diện của Người đã tạo nên những chuyển biến chiến lược tổng hợp trên cả 2 mặt tư tưởng và lực lượng.

Tại Hội nghị Trung ương 8 (tháng 5/1941), tư duy chiến lược của Người thể hiện rõ qua quyết định thay đổi chiến lược: đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, tạm gác các khẩu hiệu giai cấp khác, đồng thời thành lập Mặt trận Việt Minh nhằm tập hợp tối đa lực lượng đại đoàn kết toàn dân. Quyết sách đúng đắn này chính là cơ sở khoa học và thực tiễn trực tiếp dẫn đến thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Giá trị thời đại từ một hành trình lịch sử

Hành trình cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ xoay chuyển dòng chảy lịch sử Việt Nam trong thế kỷ XX mà còn để lại một hệ thống di sản tinh thần và bài học phương pháp luận giá trị cho muôn đời sau. Người đã định hình đường đi để thiết lập vị thế quốc gia trên bản đồ thế giới.

Trong bối cảnh hiện nay, khi đất nước đang tự tin bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, những bài học từ chặng đường bôn ba năm xưa của Người vẫn vẹn nguyên giá trị thực tiễn. Đó là bài học về tinh thần độc lập, tự chủ trong việc hoạch định đường lối; là tư duy mở, chủ động tiếp thu tinh hoa tri thức nhân loại nhưng không giáo điều, rập khuôn; và trên hết là bài học về đặt lợi ích tối cao của quốc gia, dân tộc lên hàng đầu.

Hành trình vạn dặm khởi đầu từ bến Nhà Rồng đã chứng minh năng lực tư duy vượt thời đại của một nhà lãnh đạo thiên tài. Người đã tìm ra và hiện thực hóa con đường giải phóng, mang lại độc lập, chủ quyền toàn vẹn cho dân tộc.

Tiến sĩ BÙI THỊ NGỌC TRANG - nguyên Phó giám đốc Học viện Cán bộ TPHCM

 

news_is_not_ads=
TIN MỚI