“Tuổi Thân cực lắm con ơi!”

27/05/2016 - 06:42

Sự thăm viếng đột xuất của chúng tôi làm mẹ ngạc nhiên. Ngôi nhà tình nghĩa mẹ được tặng từ lâu, nay đã xuống cấp.

Nếu không có chị Lê Thị Kim Huệ, Trưởng ban TB-XH xã Tân Hưng (H.Tân Châu, tỉnh Tây Ninh) nhiệt tình dẫn đường, chắc chúng tôi phải vất vả khi tìm nhà mẹ Lê Thị Cườm. Vì từ tỉnh lộ 785 phải rẽ vào mấy ngã tư, ngã ba đường đất lầy lội, ngập nước. Khoảng sân rộng trước nhà mẹ Cườm ở ấp Tân Tây cũng loang lổ dưới tán mấy gốc xoài, hình ảnh mẹ già đầu đội khăn rằn, miệng bỏm bẻm nhai trầu đứng trước cửa thật quen thuộc, thân thương.

Sự thăm viếng đột xuất của chúng tôi làm mẹ ngạc nhiên. Ngôi nhà tình nghĩa mẹ được tặng từ lâu, nay đã xuống cấp. Hơn hai chục năm rồi còn gì, ông Hai Tảo nay đã ra người thiên cổ, nên căn nhà cũng dột trước, dột sau. Mẹ Cườm cất thêm một căn lều lá kế bên để hai cháu nội có chỗ ở cho rộng rãi. Chỉ cô gái nhỏ nhắn vừa mang nước lên cho khách, mẹ bảo: “Nó là cháu nội, đang làm công nhân dưới Trảng Bàng. Tôi mới kêu về mấy bữa nay”.

“Tuoi Than cuc lam con oi!”
Mẹ Cườm

Cô gái ấy tên Đặng Thị Thanh Tuyền, 23 tuổi, kể với chúng tôi rằng ba má em chia tay nhau mười mấy năm rồi, lúc hai chị em còn nhỏ xíu, đứa lên chín, đứa lên ba. Vợ chồng họ mỗi người một nơi, bỏ mặc hai con nhỏ cho bà nội. “Mẹ tuổi Nhâm Thân (1932), cực lắm các con ơi!”, mẹ Cườm thở dài. Nỗi niềm phải bỏ quê hương ở xã Hiệp Hòa, huyện Đức Hòa (Long An) lên miền rừng núi biên giới xa xôi của Tây Ninh được mẹ kể lại trong cơn mưa sớm, tiếng mưa gõ trên mái tôn như thúc vào dĩ vãng dữ dội của người phụ nữ miền Tây một thời sống chết với cách mạng.

Mẹ quệt vết cốt trầu, rằng hồi đó sinh tới tám người con, bốn trai, bốn gái. Những năm đầu thập kỷ sáu mươi thế kỷ trước, khí thế cách mạng ở Long An lên mạnh lắm. Khi cấp trên có chủ trương cho đấu tranh vũ trang, cơ sở của ta ở các địa phương rất phấn khởi, anh em thanh niên tình nguyện tham gia đội vũ trang rất đông. Chồng mẹ là ông Đặng Văn Khuê cũng vậy, cứ đòi đi đánh giặc. “Trước khi Mỹ vô miền Nam (năm 1965) một năm, ổng đang mần ruộng nuôi con với tôi, tự nhiên đòi đi du kích. Tôi đâu có cản, mà nói với ổng: “Đi cách mạng thì ráng lên, không được chiêu hồi nghen. Ông chiêu hồi, tôi bắn ông trước”. Vậy là ổng đi một nước”.

Lính đồn Rừng Tre đóng cách nhà mẹ khoảng sáu trăm mét, không thấy ông chủ nhà đâu thì tới hỏi. Mẹ bảo, chồng tôi đi lính chết rồi. Nói vậy thì chúng để yên, nhưng kẹt nỗi chồng ở căn cứ, lâu lâu nhớ vợ con thì lẻn về thăm. Tới hồi mẹ có bầu người con thứ tư, tụi “Ban Hai” kéo tới tận nhà tra hỏi: “Nói chồng chết, vậy có bầu với ai?”. Mẹ không trả lời được, bị chúng đánh tơi bời, chết đi sống lại. Cứ như vậy, liền bốn đứa trong bốn năm trời.

Bọn địch đánh riết, chán thì thôi. Chúng nghi ngờ và điều tra ra ông Khuê lúc đó là xã đội phó Hiệp Hòa, nhiều lần dẫn du kích đánh đồn địch. Trong nhà mẹ có đào hầm bí mật, phòng khi chồng và anh em về có chỗ ẩn nấp. Bữa đó ông Khuê và mấy anh trong huyện ủy, kinh tài về thu tiền ủng hộ kháng chiến. Nghe chồng kêu thèm lòng heo, sáng đó mẹ đi chợ mua liền. Tám giờ sáng, còn đang giữa chợ thì có người báo bọn lính vừa vô nhà, lôi con gái đầu của mẹ ra tra khảo tìm hầm bí mật. Cô Hai, con gái đầu của mẹ, năm đó mười hai tuổi mà đã gan cùng mình. Bọn lính đánh đập, đổ nước đến ngất xỉu mà vẫn một mực nói “cha tui chết rồi!”.

Lần đó mấy cán bộ huyện đang nằm hầm được cứu thoát. Tới một ngày cuối tháng 11 năm 1970, thì sự may mắn đó không còn nữa. Ông Khuê và tổ công tác bị địch phục kích bắn chết. Bọn ác ôn cột chân ông kéo xác về đồn, đến nỗi da lưng bị bong tróc, đỏ loét. Đang mang bầu cậu út sáu tháng, mẹ Cườm vác bụng tới đồn xin xác chồng đem về chôn. Bọn giặc chửi mắng, đánh đập mẹ một trận, mãi rồi mới đồng ý. Chôn cất chồng xong, ba tháng mười ngày sau thì sinh. Vừa cai bú cho cậu út, mẹ đem tám đứa con lóc nhóc tới má chồng gửi, quyết trả thù cho chồng. “Nó hành chồng mình thê thảm quá, không căm thù sao được. Nhưng má chồng không chịu. Bả nói bây giao một lượt tám đứa, tao già rồi làm sao nuôi?”, mẹ cười móm mém nhớ lại chuyện xưa.

 
TIN MỚI