Truyện ngắn - Những vảy

18/02/2026 - 15:30

PNO - Đâu phải ai cũng đi câu vì cá. Có người ngồi gác cần chỉ để trốn khỏi cảnh cơm áo rầy rà. Có người ém sau những lùm bụi ven bờ trốn tránh đám chủ nợ réo sôi. Có người đi câu cho dịu cơn thèm chém thằng cha hàng xóm.

Có người câu người, nhập hội cần thủ nhằm tìm mối làm ăn, lấy lòng ai đó, chờ thời, như một ông già China cổ xưa, thả cần không chờ minh chủ. Anh nhớ mình nói vậy, sau tiệc cưới chính mình. Xỉn mèm, và lải nhải. Chỉ không nhớ mình đã vo lưỡi thành lời, hay là chuỗi lè nhè vô nghĩa.

Đó là lần say hiếm hoi mà anh mất kiểm soát. Anh nói mình đi câu chỉ để ngồi. Phải, ngồi thôi. Ngồi, và không làm gì khác, đến nghĩ cũng không. “Sao con người ta phải làm gì đó mới được?” - anh nói, như anh nhớ, “ngồi thì mang tội chắc? Hiến pháp đâu có nói vậy. Mà ngồi hết ngày này qua ngày khác bộ dễ sao, ai cũng làm được sao?”. Khi tỉnh dậy trong bàng hoàng hối tiếc, anh tự hỏi không biết trong lúc cởi giày, tháo cà vạt giúp chồng, vợ anh nghe được không. Nhiều lần anh cố dò, nhưng ánh nhìn chị vẫn lênh láng một sự trìu mến, khoan hòa, như hồi chị ghé tiệm câu của anh và nói, tôi thích anh, nếu anh thiệt sự chưa có mối nào thì mình quen nhau thử.

Lúc đó anh đã 7 năm ngồi ở tiệm bán đồ câu do ông già anh mở. Ấy là khi ông nhận ra thằng con trời đánh của mình thờ ơ với mọi thứ, ngoài ngồi. Một cái tiệm nhỏ, đủ kiếm đồng ra đồng vô, mà thằng nhỏ vẫn được dính mông vào bề mặt nào đó như ý nó. Người cha chỉ có thể làm nhiêu đó, trước khi thần chết tới giao ông tấm vé một chiều. “Ngồi thì cũng phải ngồi sao cho có lý, cho giống con người” - ông già thường cằn nhằn khi ghé thăm cửa tiệm mới khai trương, mà chủ nó chẳng chịu nhấc mông lau chùi, bày biện.

Nghĩ tới dịch chuyển thôi cũng khiến anh oải người, nói gì tới chuyện động vào cây chổi lông gà. Phải tới khi ông già mất, anh mới bắt đầu cầm cần câu, loại cần trúc, buông vào vũng hư vô trước mặt. “Ghiền quá. Cầm chơi” - anh bịa ra cái cớ trước tò mò người đời, hoặc buột miệng hoặc bằng ánh mắt, rằng “mắc chứng gì thả dây câu lên thềm gạch vỉa hè trước tiệm cả ngày?”.

Lý do đáng ngờ, nhưng cũng có khách tin thật, chèo kéo rủ đi câu. “Đóng cửa tiệm nửa ngày, có đói đâu mà” - thằng cha nọ nói. Ờ mình cũng phải sống cho giống con người, anh nhớ lời ông già quá cố, bèn xách cần theo bầy đàn, lang thang khắp ao hồ trong thành phố. Xa hơn nữa thì thôi, cái chính là ngồi, đâu nhất thiết phải mất công tốn sức. Chẳng bao lâu anh nổi tiếng trong giới, bởi phải đến vài ba lần rắn độc trườn qua chân, qua vai mà anh vô tri chẳng hay gì, nhiều bận cần câu bị cá lôi tuột khỏi tay, và bởi cá anh câu được thường thả lại, hoặc cho đám cần thủ đi chung. “Tụi này ngu, ăn hại não” - anh hay nói vậy, khi trút mớ cá đờ đẫn vào giỏ họ.

Nhìn lại những năm tháng đó, đôi quãng anh cũng sống giống người. Có dăm ba người bạn trong hội buông câu. 1 tuần vài ba tối tạt qua quán nhậu, đưa cay và nói chuyện tầm phào, rồi liêu xiêu thả bộ về nhà, nếu có thể gọi ấy là nhà. Cũng chuẩn bị cỗ bàn hờ khi có họ hàng tới dự ngày giỗ ba má. Và khi người đàn bà với vẻ ngoài không đẹp không xấu, tóc dày xương vai nở rộng, nom sáng sủa dễ coi, người bỗng một trưa ghé qua rủ tụi mình cặp bồ đi, “tôi để ý anh lâu lắm rồi”, anh dẫu bất ngờ đến buông cần câu một lúc, ngó thẳng vào mặt đối phương coi có chút đùa cợt nào không, nhận thấy mồ hôi đơm dày hạt nơi nhân trung, và hàm chị ta đang nghiến chặt, tin việc chủ động ngỏ lời làm người này sắp ngất, anh đã hỏi số điện thoại chị, dù chưa biết mình phải làm gì với phụ nữ.

Phóng sinh và trút vào giỏ ai đó thì không phải lẽ cho lắm, với người đàn bà này. Anh nghĩ vậy, những xế trưa bạn gái ghé qua tiệm mang cho anh chút bánh lót lòng, trời đổ nước sầm sầm chị đảo qua đưa anh áo mưa, những buổi tối hẹn hò ở nhà anh, chị không bao giờ quên mang theo bao cao su. “Cổ không phải là cá” - anh nghĩ vậy, khi chị trìu mến mở khung xương chậu chị ra, khích lệ anh đi vào và thuần hóa anh bằng những đợt triều nóng hổi. Sau này, trước giờ ra cổng cưới chào quan khách, chị đổi đôi giày bệt vì không muốn đứng cao hơn chồng, anh lại nghĩ “Mình cưới cổ là đúng. Phải, đúng lắm. Cổ không phải cá”.

Nhưng vào buổi trưa khi xông vào phòng 2046 của khách sạn Diều Xanh, anh không chắc nữa. Không có dấu tích vợ anh từng ở đó, dù họ trích xuất hết thảy máy quay cho thấy chị chưa từng ra ngoài sau khi bước vào căn phòng nọ. Phòng và cả khách sạn không có cửa sau, hay lối thoát bí mật nào. Tay cảnh sát đã chứng thực điều đó khi gõ vào từng viên gạch, săm soi từng kẽ nứt. Lỗ thông gió ở góc buồng vệ sinh thì nhỏ, đến chẳng lọt nắm tay. Tấm trải giường phẳng lặng, không sợi tóc, chứng tỏ khách chưa từng nằm vào. Những vật chất tối giản trong căn phòng không chút xô lệch như đã từng trải qua cuộc tấn công. Nhưng có cả thảy 7 cái vảy nằm rải rác trên mặt bàn trước gương. Cỡ móng tay, hình trăng khuyết, màu ngọc lục bảo hoặc xám khuya tùy vào góc nhìn vào, phần rìa có gai phớt hồng, cuống vảy lấm máu khô.

“Vảy bà Cẩm, chắc luôn” - em vợ anh nói.
“Tưởng anh là chồng chỉ thì biết chớ” - em vợ anh nói.

Anh gần như tránh nhìn vào cô em vợ mắc chứng ngủ rũ này. Cô từng ngăn cản quyết liệt khi chị gái báo tin sẽ cưới anh. “Năm có phải Phật Bà đâu mà phải cứu thằng cha ấy” - cô nói vậy, và vợ anh cười rũ ra khi kể lại. Thêm lý do nữa, cô em vợ vào đợt hôn thụy thì thôi cũng coi như khuất mắt trong phòng, ngại nhất lúc tỉnh cổ luôn bồng bềnh như thể hồn vía chẳng hòa nhập được với thân xác. Nhưng trước mớ vảy gại trong lòng tay, anh đã ngó vào mắt cô, thận trọng xác nhận lại lần nữa.

“Tụi nó mọc ở bắp đùi sau, tui tính hỏi…” - em vợ anh nói, giọng rã rời. Không có đay nghiến nào tiếp theo như anh hằng mong đợi. Ngập trên gương mặt cô ta là nỗi hối tiếc vô biên, có vẻ cô không định bắt anh một mình chịu trách nhiệm cho cuộc biến mất của bà chị gái. Vẻ như cô cũng tin chị mình mãi mãi không quay lại.

Người nhà vợ, cũng như anh, không nhớ ra từ hồi nào thì vợ anh thi thoảng nói một mình, thường là dạng câu trả lời. Họ nghĩ chắc chị bị lây nhiễm từ bà chị thứ ba - kẻ bị chồng đánh đập tỉ mỉ đến nỗi cứ mưa tuôn là lảm nhảm không thôi. Hoặc họ không nghĩ gì hết, trong cái nhà mà người thì ngủ rũ, người cưng nựng cây súng vô hình, người kiếm tiền đến vắt kiệt xác thân, người đãng trí theo mùa, thì thêm một người đối thoại với vô âm, cũng đâu gì lạ.

Ở tất cả họ, đều toát ra cái vẻ coi mọi sự không may giáng vào nhà mình đều là lẽ dĩ nhiên. Cả sự biến mất của vợ anh, người được coi là trụ cột chống đỡ gia đình, cũng không làm họ chới với quá lâu. Họ xốc đội hình lại. Bà mẹ họ vẫn đang nằm trong viện, bấu vô giường bệnh, miệng ri rỉ suốt những van lơn “buông ra”, “đi mà”.

Chỉ thằng con trai duy nhất của anh thì phản ứng thái quá, nó nghĩ mẹ bỏ đi trong lúc nó đang thất tình thì không đúng chút nào. Người mẹ mà nó biết không thể sống mà không oằn mình ra chăm lo cho ai đó. Mới cuối tuần trước thôi, mẹ còn thức tới nửa đêm chờ nó về từ Sài Gòn sau một học phần chán ngắt.

“Rồi giờ sao? Mẹ biến thành cá? Nói gì có lý hơn đi” - thằng con anh nghẹn uất, coi mớ vảy kia như một trò lừa đảo vụng về. Có thể nó nghĩ một con người không thể biến mất theo cách bốc hơi, hay thấm vào tường vách. Hoặc nó đã ngầm thừa nhận mất mát rồi, chỉ là giận bản thân không sớm nhìn ra mớ vảy khi chúng còn lợp lên người đàn bà thân thuộc.

Nhưng ngay sau đám tang hiu hắt của bà ngoại, tức má vợ anh, thằng con anh xộc vào tiệm đồ câu, như một người khách. Nói muốn kiếm một cần tay bằng sợi carbon hay kim loại gì đó, thứ bền chắc không bao giờ gãy. “Loại nào dùng để câu cá bự” - nó nói, trong lúc gại ngón cái mình vào những lưỡi câu chùm. Anh lấy cho nó một cây cần câu lục dài 4 khoen, cán mạ bạc chạm khắc đầu lâu, của hãng nội địa có cái tên thật ngầu: Hoàng Tuyền Lệnh.

Từ hôm đó, bọn anh, anh và thằng con, đã có một điểm chung: cần thủ. Chỉ là không cùng nhau như một đội. Anh tránh thằng nhỏ từ khi nó biết trườn, bò, sau này là đi, chạy nhảy, bởi lẽ ở cùng nó anh không bao giờ được ngồi yên. Nghĩ kỹ, anh đã e sợ con lúc nó còn nằm trong bọc ối, những lúc nó gò đạp làm bụng vợ anh méo mó kỳ dị.

Ngay từ trong cái bụng đầy nước đó, thằng nhỏ đã báo hiệu một tuổi thơ chạy nhảy leo trèo, có bắt đứng phạt ở góc nhà nó cũng ngọ nguậy không thôi. Làm cha một đứa như vậy, khó mà có thời gian sưởi mông mình lên bề mặt nào cho ấm nóng lên. Anh bỏ trốn. Việc đó quá dễ, thậm chí chẳng cần cớ gì, chỉ cần quảy giỏ câu đi. Thi thoảng ngó vô chỗ vách tường vợ anh đánh dấu chiều cao của con bằng mực đỏ, thấy thằng nhỏ sắp vượt khỏi mình, anh có chút bần thần. Nhận ra lâu rồi không đứng cạnh nó, hoặc có ngang qua thì cũng chẳng mấy để tâm vào.

Giờ bọn anh cũng không ngắm nhau, mạnh ai nấy nhìn vào những làn nước thẳm. Nước che giấu điều gì bên trong nó? Những bọt khí li ti, âm thanh cá đớp mồi, thứ gì đó làm chao động chân bèo, vệt bùn vẩn lên vô cớ, sự phập phồng của cái phao, những con sóng do dự trên mặt nước, một cành cây nâu thẫm dưng không trồi lên từ đáy sâu, một ngọn rau muống bất thần bị kéo ghì chìm lút, chúng muốn nhắn gửi gì?

Những ngày tháng ấy, anh tránh ngồi câu trước ban công nhà vợ, bởi đối diện bên kia là khách sạn Diều Xanh, chỗ vợ anh được coi như xuất hiện lần cuối. Chị ào vào đó đụt mưa với một đám người xuống cùng chuyến buýt, nhưng khi họ tản đi rồi, vợ anh vẫn mải chơi với mấy vũng nước rỏ từ ống quần, và rồi tự dưng chị rùng mình, như thể bừng tỉnh khỏi cơn mê, chị đẩy cửa vào gian sảnh. Máy quay ghi lại dáng lưng chị thẳng, vai buông thõng (đôi vai ấy từng dựng lên cứng chắc như thể được xiết bằng ốc vít), và không một lần ngoái nhìn về phía nhà, ngay cả khi nhận được chìa khóa phòng.

Khi xem lại đoạn hình ảnh nọ, anh nhận ra đó là lần đầu tiên và cũng là cuối cùng, chị quay lưng lại với anh. Và dáng lưng ấy đã đóng khắn vào gian sảnh Diều Xanh, mỗi khi anh lỡ đưa mắt nhìn qua. Trừ chỗ đó ra, bạ đâu anh cũng có thể ngồi câu: trước tiệm, trên sạp hàng ngoài chợ, khán đài sân vận động, nóc của một trạm chờ xe buýt, bởi mưa lâu đã hợp thể mọi ao hồ làm một. Nước hiện diện ở mọi nơi, che lấp tầng đáy, anh không cần phải tóm lưỡi câu vào dây, không cần làm mọi thứ cho hợp lý, cho giống con người.

Thằng con anh thì vác cây Hoàng Tuyền Lệnh đi xa hơn, về phía sông Tam Giang, Cái Lớn, nơi các dòng chảy sảng khoái giãn nở với thủy triều, dung dưỡng những loài cá vảy dát bạc, sáng óng, trọng lượng có thể lên tới 5, 7 ký, không chừng.

Thằng nhỏ luôn quay lại hình ảnh những con cá mình câu được, trước khi tróc mấy cái vảy gửi về cho anh. Đám vảy ngày càng nhiều lên trong hộc tủ, đa sắc đa hình, chỉ cuống vảy lấm máu thì giống hệt nhau. “Không phải con này” - nó nói, luôn là mấy từ đó, luôn bằng chất giọng thất vọng đó, trong những đoạn quay ngắn gửi về. Bán mớ cá mình câu được làm lộ phí, nó đi ngày càng xa hơn, tới những sông hồ đồng bãi đâu đó tận chân trời. Anh tin bằng cả bó tủy mình rằng thằng con sẽ không về nữa, mỗi khi nó gửi tin báo vừa lôi được một thứ khỏi nước. Khẩy mũi chân lật đi lật lại một con cá chẽm đồ sộ, hoặc cá bống mú nặng ký mà không dễ gì dìu được chúng vào bờ, thằng con nói “không phải con này”.

Mắt cá vùng nước sạch có thể soi bóng kẻ đứng trước chúng không, anh tự hỏi. Cá trong thành phố, những thứ anh câu được, thì sống trong ô nhiễm lâu, mắt đục mù. Một bọn đầy dị tật, suốt thân đầy ghẻ chóc, đầu to mình lép xẹp, hoặc cong vẹo, vảy bọc xương. Có lần anh câu được một con cá lóc gù, và bà già nọ vừa nhìn thấy khối hình dị dạng ấy đã không kìm được mà chửi thẳng mặt: “Đã tật nguyền vậy rồi mà còn không tha. Ở đâu ra thứ ác nhơn vậy chớ!”.

Bà già vẫn thường mắng xiên chửi xéo, mỗi khi anh đến ngồi ở bãi câu trước nhà bà, trong cái ngách khuất ven hồ điều hòa ngay trung tâm thành phố. Một tàng điệp de ra bờ nước, một gốc cây bị cưa sẵn thân thiện với mông, chỗ khuất không nhiều người qua lại, và gu nhạc của bà, âm thanh dàn Akai không quá tệ. Nhưng thứ thu hút anh, chừng như, là những rủa sả giả dạng bâng quơ.

“Thất đức vậy, địa ngục sao dám chứa” - bà nói. Cả khi tận mắt thấy anh phóng thích con cá vừa câu được, bà cũng không chịu thôi: “Nhắm nuốt không trôi mới thả, chớ tốt lành gì cái thứ câu kéo hại đời”.

Người bên vợ mình nên chửi mắng như vầy mới phải, anh nghĩ. Hoặc trút đòn xuống anh đến mềm mình ra. Nhưng họ chẳng tỏ thái độ gì hết, hờ hững hệt như hồi anh bán nhà, dọn vào ở rể bên chỗ họ. Cả gã em vợ thứ sáu cũng chẳng nhắm cây súng vô hình vào anh một lần nào. Nên anh cứ lượn lờ trước nhà bà già đơn bạc nọ, hứng đón những lời nghiệt ngã, quan sát cách chúng găm vào mình với niềm khoái cảm âm thầm. Như ngắm những con muỗi, vắt hút máu anh đến no căng, hay ngắm cơn sốt rét từ khi nó chỉ là một mầm bệnh âm ỉ, rồi bùng lên lúc thành băng khi thành lửa, quăng quật anh sát chiếu.

Hồi tỉnh giữa những lần sốt mê, những cơn sốt long lanh những vảy tấm, vảy láng, vảy xương, vảy mưa, vảy nhảy múa, vảy chết đơ, anh bỗng nghĩ nằm bẹp vầy không thể là kết cuộc của mình. Số mình chết ngồi mới phải, với những đốt sống, đĩa đệm dính cứng lại như hóa thạch, bộ rễ thần kinh chai xơ đi, và tay anh, dù người ta có hơ nóng, phun tẩm bao nhiêu rượu trắng, cũng không thể nào tháo ra khỏi nó chiếc cần câu buông vào vũng hư vô trước mặt.

Rốt cuộc thì ở ngoài kia có tồn tại loài cá mà chưa từng ai biết?

Nguyễn Ngọc Tư

 

news_is_not_ads=
TIN MỚI