Từ tận diệt đến tự nguyện bảo vệ
Dọc bờ biển thôn Hà Lộc, những chiếc thúng chai nhiều màu nghỉ ngơi trên bờ cát trắng. Xa ngoài khơi, một dải nước xanh thẫm hiện lên trong nắng. Ông Đặng Tấn Minh - cựu công an xã - chỉ tay giới thiệu: “Đó là rạn Bà Đậu”.
 |
| Ông Nguyễn Văn Cương (phải) - Bí thư Chi bộ thôn Hà Lộc - nói về hiệu quả của việc bảo tồn rạn Bà Đậu - Ảnh: U.N |
Nơi này từng là “điểm nóng” của kiểu khai thác tận diệt bằng thuốc nổ và xung điện. Chỉ vì mối lợi trước mắt của vài người mà sinh kế lâu dài của cộng đồng bị hủy hoại. Ban nhân dân thôn đã tổ chức nhiều cuộc họp, vận động dân từ bỏ khai thác kiểu hủy hoại môi trường. Tháng 7/2022, UBND xã Tam Tiến, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam (trước đây), thành lập tổ cộng đồng bảo vệ nguồn lợi thủy sản rạn Bà Đậu. 3 tháng sau, UBND huyện Núi Thành công nhận và giao cho tổ quản lý 64ha mặt nước theo nguyên tắc đồng quản lý được quy định trong Luật Thủy sản năm 2017.
Ông Đặng Tấn Minh tham gia tổ cộng đồng từ ngày đó cho đến nay. Ban ngày, ông làm bảo vệ cho một khu nghỉ dưỡng ven biển, lương khoảng 10 triệu đồng/tháng, hết giờ làm thì chèo thúng ra rạn để vừa câu cá kiếm thêm thu nhập, vừa bảo vệ rạn san hô. Tổ cộng đồng tuần tra theo kiểu tự nguyện, mượn ghe của dân và tự lo xăng dầu. Trong cấu trúc đồng quản lý, còn có tổ phụ nữ truyền thông vận động, tổ thanh niên hỗ trợ tuần tra và các nhóm ngư dân thực hiện quy ước khai thác. Sự phối hợp này tạo thành một mạng lưới tự quản, khiến việc giữ rạn trở thành việc chung của cả thôn.
Ông Võ Văn Long - Chi cục trưởng Chi cục Biển đảo và Thủy sản TP Đà Nẵng - cho rằng, đồng quản lý là chìa khóa để nghề cá phát triển bền vững. Khi cộng đồng hiểu nguồn lợi gắn với sinh kế, việc bảo vệ nguồn lợi trở thành phản xạ tự nhiên. Bởi vậy, những chuyển biến tích cực ở một rạn đá nhỏ có ý nghĩa rất lớn trong bối cảnh Việt Nam nỗ lực gỡ “thẻ vàng” IUU của Ủy ban châu Âu.
Bãi đẻ cho tôm cá, lá chắn cho thuyền
Đứng trên bãi cát nhìn ra khơi, ông Minh nói: “Thuyền nhỏ chỉ cần đậu trong rạn là an toàn. Thuyền của ngư dân các xã lân cận cũng ghé vào trú”.
 |
| Chợ cá Tam Tiến luôn nhộn nhịp, đầy ắp cá - Ảnh: Đồng Dương |
Những ngày gió nồm, sóng ngoài khơi dập dềnh nhưng phía trong rạn lại êm, là nơi an toàn cho hàng chục chiếc thúng chai neo đậu. Ngư dân nói, rạn không chỉ nuôi cá mà còn nuôi người. Sau khi được khoanh vùng bảo vệ, rạn trở thành môi trường tốt cho cá đổ về. Người không đủ sức ra khơi xa có thể ra rạn thả câu, mỗi đêm cũng kiếm được 300.000-400.000 đồng.
Nhờ nguồn lợi thủy sản tăng, chợ cá Tam Tiến đông hơn, họp 2 buổi/ngày, thu hút du khách đến xem cảnh mua bán. Dịch vụ lưu trú nhà dân (homestay) được mở ra dọc bãi biển, khách sạn khang trang cũng mọc lên dọc con đường chính của thôn. Từng nổi tiếng “sát cá” nhưng phải rời biển vì bệnh tim, nay ông Võ Quang Toản tham gia tổ cộng đồng như cách trả nợ. Ông khoe: “Tôi giữ rạn là giữ nồi cơm cho con cháu. Con trai tôi làm homestay, khách lặn ngắm san hô đông lắm”.
Ông Nguyễn Văn Cương - Bí thư Chi bộ thôn Hà Lộc - nói, nếu không giữ được san hô, sẽ không có chuyện người già ngồi câu chơi mà có thu nhập ngang người làm công ty và đời sống của người dân trong thôn sẽ không khấm khá như bây giờ. Ông kể, hồi tháng 3/2023, Chi cục Thủy sản tỉnh Quảng Nam đã tổ chức thả hơn 12.000 con cá giống xuống rạn. Hoạt động này không chỉ phục hồi nguồn lợi mà còn nhắc nhở cộng đồng về trách nhiệm bảo tồn bên cạnh khai thác nguồn lợi thủy sản. Từ ngày đó, tổ cộng đồng không chỉ tuần tra mà còn quan trắc san hô định kỳ, phân vùng khai thác, bố trí khu du lịch.
Biển là của chung
Người dân thôn Hà Lộc không xem rạn Bà Đậu là của riêng, bởi con cá sinh ra ở rạn Bà Đậu có thể bơi đi nuôi sống nhiều làng chài khác. Những ngày đầu khoanh vùng, vẫn có tàu nơi khác lén vào đánh bắt lậu. Người dân chèo thúng ra nhắc: “Anh em tránh giúp tụi tui, đây là rạn bảo tồn”. Dần dần, ngư dân các xã Tam Hải, Tam Quang hiểu rằng, rạn là nơi sinh sản nguồn lợi chung.
Những gì diễn ra ở thôn Hà Lộc là một mảnh ghép trong bức tranh bảo tồn nghề cá ở TP Đà Nẵng. Tại xã đảo Tam Hải, vùng biển có hơn 90ha rạn san hô đang được nghiên cứu để lập khu bảo tồn. Xa hơn, Cù Lao Chàm - khu dự trữ sinh quyển thế giới - là điển hình cho mô hình cộng đồng cùng bảo tồn và phát triển du lịch sinh thái xanh. Theo tiến sĩ Nguyễn Chu Hồi - Phó chủ tịch thường trực Hội Thủy sản Việt Nam - việc thiết lập các “vùng xanh” trên biển là giải pháp quan trọng để phục hồi nguồn lợi và phát triển kinh tế biển xanh.
Ông Lê Văn Hiệp - Chủ tịch Hội Nông dân xã Tam Xuân - mơ về một ngày mà du khách có thể đi bộ dưới lòng biển để tận mắt xem cá sinh sản. Khi đó, tour ngắm cá đẻ sẽ là một sản phẩm du lịch độc đáo. Khi đó, nguồn lợi thủy sản được bảo vệ sẽ tự sinh sôi ra giá trị mới.
Rời thôn Hà Lộc, tôi nhớ hình ảnh ông Minh, ông Toản, ông Cương đứng trên bãi cát nhìn ra rạn - nơi vừa là bãi đẻ của tôm cá, vừa là nơi neo đậu an toàn cho thuyền. Những rạn san hô hồi sinh không chỉ là nơi trú ngụ của sinh vật biển mà còn là bãi đẻ của sinh kế mới, của một nghề cá có trách nhiệm. Khi cộng đồng được trao quyền đúng nghĩa, biển sẽ trả ơn.
Thiếu pháp nhân - rào cản của mô hình đồng quản lý Mô hình đồng quản lý nguồn lợi thủy sản đang bị vướng rào cản về pháp lý và tài chính. Ông Lê Văn Hiệp - Chủ tịch Hội Nông dân xã Tam Xuân - cho biết, tổ cộng đồng được giao nhiệm vụ tuần tra, bảo vệ nguồn lợi thủy sản nhưng lại không có tư cách pháp nhân để tiếp nhận kinh phí hỗ trợ. Vì vậy, các nguồn tiền dành cho việc đóng tàu tuần tra, tập huấn hay phục hồi hệ sinh thái vẫn chưa thể giải ngân. Theo ông Võ Văn Long - Chi cục trưởng Chi cục Biển đảo và Thủy sản TP Đà Nẵng - đây là vướng mắc chung của các mô hình đồng quản lý trên cả nước. Ông Trần Nam Hưng - Phó chủ tịch UBND TP Đà Nẵng - cho rằng, để nghề cá phát triển bền vững, cần những giải pháp đồng bộ từ thể chế, sinh kế đến quản lý. Khi đời sống ngư dân được đảm bảo và nguồn lợi phục hồi, các hành vi khai thác bất hợp pháp sẽ giảm đáng kể. Do đó, cần sớm hoàn thiện cơ chế để cộng đồng bảo tồn biển tiếp cận được các nguồn lực cần thiết. Nếu giao trách nhiệm cho các tổ cộng đồng mà không giao quyền hạn và công cụ thì rất khó nhân rộng mô hình đồng quản lý. |
Uông Ngọc