4 nhóm giải pháp cho hạt gạo Việt Nam

23/03/2026 - 06:51

PNO - Giữ vững vị thế của hạt gạo Việt không chỉ là giữ một ngành hàng mà là giữ một trụ cột an ninh kinh tế quốc gia trong bối cảnh toàn cầu nhiều biến động.

Những cú sốc địa chính trị từ Trung Đông một lần nữa nhắc chúng ta rằng, hạt gạo xuất khẩu là kết quả của cả một hệ sinh thái chịu tác động bởi hàng loạt tác nhân, trong đó có giá dầu, cước tàu biển, bảo hiểm vận tải và an ninh các tuyến hàng hải toàn cầu. Chi phí logistics, giá nhiên liệu, giá phân bón và sản xuất tăng mạnh chắc chắn ảnh hưởng xấu đến lợi thế cạnh tranh của gạo Việt Nam. Trong bối cảnh đó, cần có chiến lược tái cấu trúc toàn diện ngành gạo, tập trung vào 4 nhóm giải pháp then chốt.

Trước hết, cần tổ chức lại hệ thống logistics lúa gạo theo hướng giảm phụ thuộc vào vận tải biển quốc tế và tối ưu hóa chi phí nội vùng. Điểm nghẽn lớn nhất hiện nay nằm ở chi phí đưa hạt gạo ra thị trường thế giới. Khi các tuyến vận tải toàn cầu bị gián đoạn, doanh nghiệp Việt Nam phải chịu “phí rủi ro” cao hơn nhưng lại ít có khả năng đàm phán. Vì vậy, phát triển hệ thống logistics vùng - đặc biệt là các trung tâm trung chuyển, kho lạnh, cảng nội địa và kết nối đa phương thức - chính là cách để “nội địa hóa” một phần chi phí và rủi ro. Chi phí vận chuyển nội vùng giảm đủ lớn sẽ bù đắp đáng kể cho phần chi phí quốc tế tăng lên. Đây không chỉ là giải pháp hạ tầng mà còn là giải pháp cạnh tranh.

Thứ hai, phải giảm mạnh sự phụ thuộc đầu vào nhập khẩu, nhất là phân bón và vật tư nông nghiệp. Biến động giá dầu đã chứng minh một thực tế: mô hình sản xuất lúa gạo phụ thuộc đầu vào hóa học là mô hình dễ tổn thương. Việc chuyển sang nông nghiệp tuần hoàn, tận dụng phụ phẩm như rơm rạ, trấu, chất thải hữu cơ để sản xuất phân bón không chỉ giúp giảm chi phí mà còn tạo ra lợi thế xanh cho gạo Việt Nam. Khi thị trường thế giới ngày càng ưu tiên các tiêu chuẩn bền vững, việc giảm phát thải và truy xuất nguồn gốc là điều kiện bắt buộc. Giảm chi phí đầu vào và tăng giá trị đầu ra phải song hành đồng bộ.

Thứ ba, cần nâng cấp chuỗi giá trị theo hướng gia tăng chế biến sâu và xây dựng thương hiệu gạo quốc gia. Một thực tế là khi chi phí logistics tăng cao, các sản phẩm thô chịu tác động nặng nề hơn so với sản phẩm chế biến có giá trị cao. Nếu một container gạo xuất khẩu phải “gánh” thêm chi phí vận chuyển thì giá trị gia tăng trên mỗi đơn vị sản phẩm phải đủ lớn để hấp thụ phần chi phí đó.

Điều này đòi hỏi chuyển dịch từ xuất khẩu gạo với số lượng lớn sang các dòng sản phẩm có chất lượng cao, gạo hữu cơ, gạo đặc sản, gạo chế biến. Việc xây dựng thương hiệu không chỉ ở tên gọi mà phải là một hệ sinh thái tiêu chuẩn, từ vùng nguyên liệu, quy trình sản xuất đến sản phẩm. Khi có thương hiệu, hạt gạo không chỉ được bán bằng giá mà còn bằng niềm tin.

Thứ tư, cần đa dạng hóa thị trường xuất khẩu. Phụ thuộc vào một vài thị trường lớn đồng nghĩa với việc dễ bị tổn thương khi chuỗi cung ứng bị gián đoạn. Việc mở rộng thị trường không chỉ giúp phân tán rủi ro mà còn tận dụng lợi thế về khoảng cách địa lý.

4 nhóm giải pháp trên không tách rời nhau mà tạo thành một cấu trúc liên kết. Logistics giúp giảm chi phí, sản xuất tuần hoàn giúp giảm phụ thuộc, chế biến sâu làm tăng giá trị và đa dạng hóa thị trường giúp phân tán rủi ro. Khi các yếu tố này vận hành đồng bộ, chuỗi giá trị lúa gạo sẽ có khả năng chống chịu tốt hơn trước các cú sốc bên ngoài.

Những thách thức hiện nay đòi hỏi một cách tiếp cận chủ động, linh hoạt và dựa trên tư duy chuỗi giá trị. Giữ vững vị thế của hạt gạo Việt không chỉ là giữ một ngành hàng mà là giữ một trụ cột an ninh kinh tế quốc gia trong bối cảnh toàn cầu nhiều biến động.

Tiến sĩ Trần Hữu Hiệp

 

news_is_not_ads=
TIN MỚI