Không dám nhận mình là người Gò Cỏ
Gần 10 năm trước, Gò Cỏ vẫn chỉ là một dấu chấm lặng lẽ trên bản đồ. Đường vào làng ngoằn ngoèo qua triền đá, nhà cửa thưa thớt, nhiều căn đóng cửa im lìm. Thanh niên trai tráng lần lượt rời quê mưu sinh xứ người, để lại những người già trông cháu, giữ nhà. Những người già còn sức vẫn ngày ngày ra biển đánh bắt tôm cá như cách sinh tồn của tổ tiên họ.
Bà Nguyễn Thị Đào - 74 tuổi, thành viên tổ bếp ăn - ngậm ngùi: “Có thời, người ta hỏi quê quán thì đàn ông trong làng không dám nói mình ở Gò Cỏ, bởi nhà nghèo quá, lại ở trên núi. Mỗi khi bước ra khỏi làng, người lớn bị khinh, người già có khi còn bị người ta vỗ nón, dúi đầu như con nít. Họ miệt thị: “Ở Gò Cỏ mà ra đây làm gì?”.
 |
| Bà Nguyễn Thị Vân (đội nón) thuyết minh với du khách về cách làm muối trên gành đá đã được duy trì từ xưa đến nay - ẢNH: G.C. |
 |
| Bà Trần Thị Thương (giữa) giới thiệu cây tai long với khách, loài cây người làng Gò Cỏ chế biến thành nhiều món ăn - ẢNH: G.C. |
Suốt nhiều năm, trai gái Gò Cỏ gần như không thể kết hôn với người bên ngoài. Giọng đều, không trách móc, bà Đào kể tiếp: “Nghe nói ở Gò Cỏ là người ta chạy. Người ta sợ nghèo, sợ đường núi, sợ sống không nổi”. Bà nhớ chuyện một đứa cháu trong làng quen người ngoài. Dù đã ưng nhau lắm, nhưng khi bên kia biết quê quán, gia đình họ lắc đầu ngay: “Gò Cỏ thì thôi”. Bà Trần Thị Thương - 73 tuổi, chủ homestay Bài Chòi - góp thêm một tiếng thở dài: “Con trai trong làng lấy vợ khó lắm. Con gái cũng vậy. Người ta nghe tới Gò Cỏ là ngán rồi”.
Sau hơn 40 năm hòa bình, làng Gò Cỏ vẫn chìm trong nghèo khó. Hơn 100 hộ dân bỏ đi. Những người ở lại sống trong cảnh không điện, không đường. Bà Nguyễn Thị Vân nhớ lại rằng, dân làng vẫn thường hỏi nhau: “Tại sao nhiều nơi mở công ty, khu du lịch sầm uất mà làng mình hơn 40 năm vẫn không thấy gì?”.
Không biết chữ cũng có giá trị
Trong những năm tháng tưởng như bế tắc ấy, nghị lực của người Gò Cỏ lại âm thầm hình thành. Những năm 1990, điện vẫn là giấc mơ xa xỉ, người làng quyết tâm góp tiền kéo điện về, mỗi hộ đóng 2,5 triệu đồng, là số tiền quá lớn đối với những gia đình sống dựa vào nghề biển và nghề nông. Nhưng khi khảo sát, thấy địa hình khó khăn, công ty điện lực bỏ cuộc.
Không chờ đợi, dân làng tự làm. “Cả làng, ai đi được là đi, ai nắm được dây thì nắm. Người vác cột, người giữ dây, men theo triền núi mà kéo” - bà Vân nhớ lại. Có hố trụ gặp đá cứng, cuốc không nổi, họ mướn nhau đào, 50.000 đồng/hố. Đêm thắp sáng bóng điện đầu tiên, trẻ con theo nhau từng tốp, vừa chạy vừa reo “điện, điện”. Đó là khoảng năm 1994-1995.
Nhưng ánh điện vẫn chưa đủ để xua đi bóng tối lớn hơn: sự tự ti và bị lãng quên. Phải đến năm 2017, một ánh sáng khác mới thực sự được bật lên - ánh sáng của nhận thức. Năm ấy, ông Đoàn Sung - luật sư, doanh nhân làm kinh tế di sản - ghé Gò Cỏ. Đi quanh làng, ông chỉ thấy người già, trẻ nhỏ và những đám tang. “Sao làng không có người trẻ?” - ông hỏi. Bà Vân khi đó ngồi ở ngõ, kéo ông lại nghe “bể khổ” của làng.
Ông Sung nói: “Bà con yên trí, sang năm tôi về đây làm du lịch”. Người dân không tin, xem đó chỉ là câu động viên của khách qua đường. Nhưng ông Sung giữ lời. Năm 2018, ông đưa bà con đi tham quan Cù Lao Chàm, Hội An. Bà Vân và ông Trần Khương - chủ homestay Hoa Bưởi - là những người xung phong đi trước. Họ bảo nhau: “Mình phải đi xem, rồi về làm hay không làm thì tự mình biết”. Sau 4 đợt đi thực tế, bà con nêu quyết tâm: “Cù Lao Chàm cách trở vẫn làm được, Gò Cỏ mình phong cảnh còn đẹp hơn, sao lại không làm?”.
Khó khăn lớn nhất không nằm ở hạ tầng, mà ở tâm lý tự ti đã ăn sâu nhiều thế hệ và sự hạn chế trong hiểu biết của những người không biết chữ. Khi ông Sung đề nghị phô tô giấy tờ đất để làm thủ tục tham gia hợp tác xã, nhiều người hoang mang, sợ bị lừa. Bà Vân phải đi từng nhà giải thích.
Rồi chính những người không biết chữ ấy lại là những người xung phong đi học làm du lịch. Khi được mời làm hướng dẫn, bà Vân, bà Thương từng nghĩ mình phải biết ngoại ngữ, phải học thuộc bài, nhưng ông Sung nói: “Chỉ cần hiểu lịch sử làng và hiểu cuộc đời mình”. Các bà đã thuyết minh với khách bằng ký ức và cảm nhận.
Một trong những ký ức đáng nhớ nhất của bà Vân - cũng là của người làng Gò Cỏ - là lần bà được mời dự hội thảo khoa học cấp quốc gia. Không ai bảo bà phải ăn mặc thế nào, nói những gì. Bà dậy sớm, gói bánh ít, luộc mấy củ mì bỏ vào túi vải, mang theo chai nước rồi bước vào phòng họp lớn nhất tỉnh Quảng Ngãi. Trước hội trường đầy áo vest và cặp da, bà đội nón lá bước lên sân khấu hát bài Rừng dừa - một điệu bài chòi quen thuộc của Gò Cỏ.
Chiều cùng ngày, bà nói về làng mình bằng những câu chuyện mộc mạc, chân phương - thứ hiếm thấy ở các hội thảo. Hôm đó, cả hội trường im lặng lắng nghe. Lúc ra về, bà Vân bảo: “Mình không biết chữ, nhưng bây giờ mới biết rằng không biết chữ cũng có giá trị”.
Đất và người Gò Cỏ là độc nhất
Nghị lực ở Gò Cỏ không chỉ được thể hiện trên diễn đàn. Du lịch không làm mờ đi đời sống thường ngày của người dân nơi đây. Nửa đêm, đàn ông vẫn ra biển, chiều về lại ngồi vá lưới trên bờ cát. Các bà đều đặn mang cá xuống chợ Nại, làm muối trên gành đá. Bà con xác định, du lịch chỉ là thêm một công việc để làm cho đời sống hôm nay tốt hơn trước đây.
Khó khăn lớn nhất của du lịch cộng đồng là tâm lý hơn thua. Nhưng ở Gò Cỏ, bà con ý thức rất rõ điều đó. Họ cùng tuân thủ mức giá chung, từ bữa cơm đến chỗ ngủ nghỉ, nghiêm túc thực hiện sự điều phối của Trung tâm Du khách làng Gò Cỏ. “Ai cũng từng nghèo, từng tự ti mà vươn lên nên biết bảo nhau làm sao để nhà nào cũng có chén cơm, chứ đừng có nhà tấp nập khách, có nhà lại không có khách. Hợp tác xã có hiệp ước, ai làm sai thì họp kiểm điểm” - bà Vân nói.
Dân làng Gò Cỏ chọn con đường “hoang sơ và văn minh”, không nhận tiền “bo” của khách bởi xác định mình là chủ thể, không phải là người làm thuê. “Dịch vụ văn hóa” ở đây là kể câu chuyện của chính mình, là đón khách như đón người thân quen. Những món ăn từ cây lưỡi long, những làn điệu dân gian vẫn được giữ gìn nguyên vẹn. Bà Vân, bà Thương - những bà nội, bà ngoại đã ngoài 70 tuổi - rạng rỡ: “Bây giờ ra ngoài, chúng tôi hãnh diện lắm, tự hào nói mình là người Gò Cỏ”.
“Gò Cỏ ơi ta quý ta yêu/ Bao nhiêu đời mới gặp cánh diều bay lên” là câu hát do chính bà con làng Gò Cỏ sáng tác. Nó vang lên như lời khẳng định rằng, họ đã bay lên từ chính đôi cánh của mình. Kỳ tích của làng Gò Cỏ được viết nên bằng đời sống của những con người từng không biết chữ nhưng chưa bao giờ thôi trân trọng quê hương, để từ đó chứng minh: khi con người nhận ra giá trị của mình và không rời bỏ làng quê thì những điều tưởng như yếu nhất cũng có thể trở thành sức mạnh bền bỉ nhất.
Làng cổ Gò Cỏ nằm trong không gian văn hóa Sa Huỳnh - 1 trong 3 nền văn hóa tiền sử, sơ sử tiêu biểu của Việt Nam. Khu vực này còn bảo lưu tương đối nguyên vẹn cấu trúc cư trú truyền thống với nhà đá, ngõ đá, bờ rào đá cùng hệ thống giếng cổ, gắn với mô hình sinh kế đặc thù của cư dân ven biển Trung Trung Bộ. Gò Cỏ đã được các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước khảo sát, đánh giá là không gian có giá trị đặc biệt về lịch sử cư trú, kiến trúc dân gian và mối quan hệ giữa con người với môi trường tự nhiên khắc nghiệt. |
Uông Ngọc