Khi thế giới phục hồi sau cơn bạo bệnh: Nguy cơ khủng hoảng từ “độ vênh” giữa các nền kinh tế

05/07/2021 - 05:41

PNO - Dù đang bắt đầu trở lại mức tăng trưởng trước đại dịch, nhưng cũng như tác động không đồng đều của COVID-19, tốc độ phục hồi kinh tế sẽ rất khác nhau giữa các quốc gia.

Nơi phục hồi, nơi vẫn đang tổn thương

Theo Gulcin Ozkan - giáo sư tài chính Đại học King’s College London (Anh) - năm 2020, kinh tế thế giới suy giảm 4,3%. Hậu quả chưa từng có đã giáng xuống cơ hội việc làm, tạo ra sự đình trệ gấp mười lần so với cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008. Ước tính, có 114 triệu người mất việc trên khắp hành tinh.

Theo các báo cáo gần đây của Tổ chức Kinh tế hợp tác và phát triển (OECD) và Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF), sau hơn một năm kể từ khi xảy ra đại dịch, triển vọng phục hồi toàn cầu dường như đang được cải thiện. Một số quốc gia như Mỹ, Anh, Hàn Quốc, Nhật Bản và Đức đang trên đà phục hồi, dự kiến vào cuối năm nay, mức tăng trưởng GDP bình quân đầu người sẽ về mức như trước đây.

Chỉ một số ít nền kinh tế có thể trở lại mức tăng trưởng như trước đại dịch vào cuối năm nay - Ảnh: Shutterstock
Chỉ một số ít nền kinh tế có thể trở lại mức tăng trưởng như trước đại dịch vào cuối năm nay - Ảnh: Shutterstock

Tuy nhiên, ở các quốc gia khác, chẳng hạn Tây Ban Nha và Iceland, đều đang chịu những đòn giáng mạnh vào nền kinh tế do sự sụt giảm doanh thu du lịch. Ngành kinh tế trọng yếu của hai quốc gia này dự kiến sẽ còn trì trệ cho đến ít nhất là giữa năm 2023. Tệ hơn nữa, tăng trưởng của các quốc gia như Nam Phi và Argentina được dự báo sẽ vẫn ở dưới mức của năm 2019 và khả năng hồi phục sớm nhất phải đến cuối năm 2024 hoặc 2025.

Hai yếu tố nền tảng quyết định tốc độ phục hồi kinh tế các nước sau đại dịch là hành động mạnh mẽ trong phòng, chống COVID-19 và sự thành công của chương trình vắc xin. Không có gì ngạc nhiên khi Anh và Mỹ có tỷ lệ tăng trưởng dự kiến cao nhất trong số các nền kinh tế tiên tiến, lần lượt là 7,2% và 6,9%. Đây cũng là hai quốc gia đứng đầu bảng xếp hạng về quy mô các gói chính sách ứng phó với dịch bệnh và tỷ lệ dân số được tiêm chủng.

Dù rằng lãnh đạo toàn cầu đã triển khai hàng loạt chính sách kinh tế trong cuộc chiến chống COVID-19, bao gồm các biện pháp chi ngân sách hỗ trợ cho các gia đình thu nhập thấp, trợ cấp và miễn thuế cho các doanh nghiệp, bổ sung nguồn lực cho các hệ thống chăm sóc sức khỏe… thế nhưng, các chính sách này chỉ tạo ra thay đổi đáng kể ở các nền kinh tế phát triển, trong khi đại dịch tác động nặng nề hơn đến các thị trường mới nổi.

Điều này không giống như hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008. Nhiều quốc gia nghèo gặp khó khăn trong việc ngăn chặn, giảm thiểu ca mắc do năng lực y tế kém cỏi, đồng thời, khả năng tăng chi tiêu công hạn hẹp, nên đã chịu thiệt hại lớn hơn.

Nguyên nhân có sự khác biệt trong tốc độ phục hồi kinh tế liên quan đến tỷ lệ tiêm chủng thành công khác nhau ở từng quốc gia. Theo OECD, đơn giản là “nhiều mũi tiêm hơn, nhiều việc làm hơn”. Nếu như Israel đã phủ vắc xin khoảng 60% dân số, thì với không ít quốc gia khác, con số này chưa đến 1%. Điều này, kèm với sự khác biệt đáng kể về tỷ lệ nhiễm và tử vong, cho thấy mô hình kinh tế toàn cầu sau cuộc khủng hoảng dịch bệnh chắc chắn cũng sẽ phục hồi không đồng đều.

Hệ quả toàn cầu

Sự hồi phục không đồng đều này sẽ tạo ra cuộc khủng hoảng kinh tế mới. Hậu quả không chỉ đối với các quốc gia có tốc độ phục hồi chậm hơn, mà là nền kinh tế thế giới. Cuộc khủng hoảng kinh tế do COVID-19 đã phơi bày sự mong manh của các cấu trúc thương mại quốc tế hiện hữu vốn khá phụ thuộc vào nhau giữa các thị trường. Điều này phát xuất từ chuỗi giá trị toàn cầu trước đây. Khi mà sản xuất được chia thành nhiều công đoạn và được hoàn thành ở các quốc gia khác nhau. Và phương thức này chiếm đến 70% thương mại giữa các quốc gia.

Một ví dụ về sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế trên thế giới là một số nước thiếu hụt chất bán dẫn - nguyên liệu dùng sản xuất các vi mạch trong công nghiệp điện tử, từ điện thoại di động đến các thiết bị gia dụng. Những đợt phong tỏa đầu tiên trong giai đoạn đầu đại dịch cho thấy các nhà sản xuất lớn, bao gồm cả Trung Quốc, lao đao thế nào. Sự thiếu hụt đáng kể chất bán dẫn gây tắc nghẽn sản xuất điện tử ở nhiều quốc gia khác. Buộc họ phải nghiêm túc tính toán lại chi phí sản xuất so với lợi ích mà chuỗi cung ứng toàn cầu mang lại.

Theo Ozkan, tái cân bằng là bước hệ trọng để hành trình chuyển đổi sang thế giới “hậu COVID-19” thành công. Đối với chính sách quốc tế, thách thức trước mắt là làm thế nào để các nước giàu và nghèo có thể làm việc cùng nhau nhằm tăng tỷ lệ bao phủ vắc xin lên cao nhất. Những vấn đề mà Chương trình COVAX - một nỗ lực của Tổ chức Y tế thế giới nhằm cung cấp vắc xin cho các nước nghèo - đang phải đối mặt, cho thấy sự “phối hợp quốc tế” trong hiện thực lại đầy khó khăn. Đối với sự phục hồi kinh tế cũng vậy. Lợi ích của một quốc gia riêng rẽ sẽ khó có thể bền vững, nếu một phần đáng kể thế giới còn lại vẫn đang bị tổn thương và tụt về phía sau. 

Nam Anh (theo The Conversation)

 

 

 
Array ( [news_id] => 1438793 [news_title] => Khi thế giới phục hồi sau cơn bạo bệnh: Nguy cơ khủng hoảng từ “độ vênh” giữa các nền kinh tế [news_title_seo] => Khi thế giới phục hồi sau cơn bạo bệnh: Nguy cơ khủng hoảng từ “độ vênh” giữa các nền kinh tế [news_supertitle] => [news_picture] => khi-the-gioi-phuc-hoi-sau-con-bao-_1625162074.jpg [news_subcontent] => Dù đang bắt đầu trở lại mức tăng trưởng trước đại dịch, nhưng tốc độ phục hồi kinh tế giữa các quốc gia là rất khác nhau. [news_subcontent_seo] => Dù đang bắt đầu trở lại mức tăng trưởng trước đại dịch, nhưng tốc độ phục hồi kinh tế giữa các quốc gia là rất khác nhau. [news_headline] => Dù đang bắt đầu trở lại mức tăng trưởng trước đại dịch, nhưng cũng như tác động không đồng đều của COVID-19, tốc độ phục hồi kinh tế sẽ rất khác nhau giữa các quốc gia. [news_content] =>

Nơi phục hồi, nơi vẫn đang tổn thương

Theo Gulcin Ozkan - giáo sư tài chính Đại học King’s College London (Anh) - năm 2020, kinh tế thế giới suy giảm 4,3%. Hậu quả chưa từng có đã giáng xuống cơ hội việc làm, tạo ra sự đình trệ gấp mười lần so với cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008. Ước tính, có 114 triệu người mất việc trên khắp hành tinh.

Theo các báo cáo gần đây của Tổ chức Kinh tế hợp tác và phát triển (OECD) và Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF), sau hơn một năm kể từ khi xảy ra đại dịch, triển vọng phục hồi toàn cầu dường như đang được cải thiện. Một số quốc gia như Mỹ, Anh, Hàn Quốc, Nhật Bản và Đức đang trên đà phục hồi, dự kiến vào cuối năm nay, mức tăng trưởng GDP bình quân đầu người sẽ về mức như trước đây.

Chỉ một số ít nền kinh tế có thể trở lại mức tăng trưởng như trước đại dịch vào cuối năm nay - Ảnh: Shutterstock
Chỉ một số ít nền kinh tế có thể trở lại mức tăng trưởng như trước đại dịch vào cuối năm nay - Ảnh: Shutterstock

Tuy nhiên, ở các quốc gia khác, chẳng hạn Tây Ban Nha và Iceland, đều đang chịu những đòn giáng mạnh vào nền kinh tế do sự sụt giảm doanh thu du lịch. Ngành kinh tế trọng yếu của hai quốc gia này dự kiến sẽ còn trì trệ cho đến ít nhất là giữa năm 2023. Tệ hơn nữa, tăng trưởng của các quốc gia như Nam Phi và Argentina được dự báo sẽ vẫn ở dưới mức của năm 2019 và khả năng hồi phục sớm nhất phải đến cuối năm 2024 hoặc 2025.

Hai yếu tố nền tảng quyết định tốc độ phục hồi kinh tế các nước sau đại dịch là hành động mạnh mẽ trong phòng, chống COVID-19 và sự thành công của chương trình vắc xin. Không có gì ngạc nhiên khi Anh và Mỹ có tỷ lệ tăng trưởng dự kiến cao nhất trong số các nền kinh tế tiên tiến, lần lượt là 7,2% và 6,9%. Đây cũng là hai quốc gia đứng đầu bảng xếp hạng về quy mô các gói chính sách ứng phó với dịch bệnh và tỷ lệ dân số được tiêm chủng.

Dù rằng lãnh đạo toàn cầu đã triển khai hàng loạt chính sách kinh tế trong cuộc chiến chống COVID-19, bao gồm các biện pháp chi ngân sách hỗ trợ cho các gia đình thu nhập thấp, trợ cấp và miễn thuế cho các doanh nghiệp, bổ sung nguồn lực cho các hệ thống chăm sóc sức khỏe… thế nhưng, các chính sách này chỉ tạo ra thay đổi đáng kể ở các nền kinh tế phát triển, trong khi đại dịch tác động nặng nề hơn đến các thị trường mới nổi.

Điều này không giống như hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008. Nhiều quốc gia nghèo gặp khó khăn trong việc ngăn chặn, giảm thiểu ca mắc do năng lực y tế kém cỏi, đồng thời, khả năng tăng chi tiêu công hạn hẹp, nên đã chịu thiệt hại lớn hơn.

Nguyên nhân có sự khác biệt trong tốc độ phục hồi kinh tế liên quan đến tỷ lệ tiêm chủng thành công khác nhau ở từng quốc gia. Theo OECD, đơn giản là “nhiều mũi tiêm hơn, nhiều việc làm hơn”. Nếu như Israel đã phủ vắc xin khoảng 60% dân số, thì với không ít quốc gia khác, con số này chưa đến 1%. Điều này, kèm với sự khác biệt đáng kể về tỷ lệ nhiễm và tử vong, cho thấy mô hình kinh tế toàn cầu sau cuộc khủng hoảng dịch bệnh chắc chắn cũng sẽ phục hồi không đồng đều.

Hệ quả toàn cầu

Sự hồi phục không đồng đều này sẽ tạo ra cuộc khủng hoảng kinh tế mới. Hậu quả không chỉ đối với các quốc gia có tốc độ phục hồi chậm hơn, mà là nền kinh tế thế giới. Cuộc khủng hoảng kinh tế do COVID-19 đã phơi bày sự mong manh của các cấu trúc thương mại quốc tế hiện hữu vốn khá phụ thuộc vào nhau giữa các thị trường. Điều này phát xuất từ chuỗi giá trị toàn cầu trước đây. Khi mà sản xuất được chia thành nhiều công đoạn và được hoàn thành ở các quốc gia khác nhau. Và phương thức này chiếm đến 70% thương mại giữa các quốc gia.

Một ví dụ về sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế trên thế giới là một số nước thiếu hụt chất bán dẫn - nguyên liệu dùng sản xuất các vi mạch trong công nghiệp điện tử, từ điện thoại di động đến các thiết bị gia dụng. Những đợt phong tỏa đầu tiên trong giai đoạn đầu đại dịch cho thấy các nhà sản xuất lớn, bao gồm cả Trung Quốc, lao đao thế nào. Sự thiếu hụt đáng kể chất bán dẫn gây tắc nghẽn sản xuất điện tử ở nhiều quốc gia khác. Buộc họ phải nghiêm túc tính toán lại chi phí sản xuất so với lợi ích mà chuỗi cung ứng toàn cầu mang lại.

Theo Ozkan, tái cân bằng là bước hệ trọng để hành trình chuyển đổi sang thế giới “hậu COVID-19” thành công. Đối với chính sách quốc tế, thách thức trước mắt là làm thế nào để các nước giàu và nghèo có thể làm việc cùng nhau nhằm tăng tỷ lệ bao phủ vắc xin lên cao nhất. Những vấn đề mà Chương trình COVAX - một nỗ lực của Tổ chức Y tế thế giới nhằm cung cấp vắc xin cho các nước nghèo - đang phải đối mặt, cho thấy sự “phối hợp quốc tế” trong hiện thực lại đầy khó khăn. Đối với sự phục hồi kinh tế cũng vậy. Lợi ích của một quốc gia riêng rẽ sẽ khó có thể bền vững, nếu một phần đáng kể thế giới còn lại vẫn đang bị tổn thương và tụt về phía sau. 

Nam Anh (theo The Conversation)

 

 

[news_source] => [news_tag] => Cuộc khủng hoảng kinh tế do COVID-19,vắc xin COVID-19,tốc độ phục hồi kinh tế,đại dịch COVID-19 [news_status] => 6 [news_createdate] => 2021-07-02 00:53:50 [news_date] => [news_publicdate] => 2021-07-05 05:41:07 [news_relate_news] => 1438677,1436462,1436029,1419067,1414613, [newcol_id] => 0 [newevent_id] => 0 [newcate_code1] => the-gioi [newcate_code2] => all [news_copyright] => 1 [news_url] => [news_urlid] => [onevent_id] => 0 [survey_id] => [news_lang] => vi [news_link] => [news_iscomment] => 1 [news_type] => 0 [news_numview] => 366 [news_is_not_ads] => [news_is_not_follow] => [news_is_not_preroll] => [news_link_public] => https://www.phunuonline.com.vn/khi-the-gioi-phuc-hoi-sau-con-bao-benh-nguy-co-khung-hoang-tu-do-venh-giua-cac-nen-kinh-te-a1438793.html [tag] => Cuộc khủng hoảng kinh tế do COVID 19vắc xin COVID 19tốc độ phục hồi kinh tếđại dịch COVID 19 [daynews2] => 2021-07-05 05:41 [daynews] => 05/07/2021 - 05:41 )
news_is_not_ads=
TIN MỚI