Tiến sĩ khảo cổ Nguyễn Thị Hậu: Sài Gòn với tôi là người thương

21/08/2021 - 07:00

PNO - Sinh năm 1958, tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu là đại diện cho thế hệ “di dân” đầu tiên vào Sài Gòn sau sự kiện lịch sử 1975. Gần 50 năm, hơn nửa đời người, chị buồn vui với mảnh đất Sài Gòn.

Tiễn sĩ Nguyễn Thị Hậu (còn gọi là Hậu khảo cổ) sinh năm 1958 tại Hà Nội, quê gốc ở xã Mỹ Hiệp, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Năm 1954, gia đình chị tập kết ra miền Bắc. Năm 1975, chị về Sài Gòn sinh sống, làm việc và gắn bó đến tận bây giờ. Chị có bằng tiến sĩ khảo cổ học, từng làm việc tại Bảo tàng Lịch sử TP.HCM, nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển TP.HCM.

Hiện nay, chị là Phó Tổng thư ký Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, Tổng Thư ký Hội Sử học TP.HCM, tham gia giảng dạy ở Trường đại học Khoa học xã hội và Nhân văn TP.HCM. Ngoài chuyên ngành khảo cổ, tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu còn nghiên cứu về lịch sử, văn hóa vùng đất Nam bộ. Một số chuyên khảo và tùy bút văn hóa của Nguyễn Thị Hậu đã xuất bản: Đi và tìm trong đất, Khảo cổ học bình dân Nam bộ - Việt Nam, Buổi trưa trong quán cà phê, Văn hóa khảo cổ huyện Cần Giờ (TP.HCM), Thế giới mạng và tôi, Sài Gòn bao giờ cũng thế, Cách nhau chỉ một giấc mơ, Đô thị Sài Gòn - TP.HCM: Khảo cổ học và bảo tồn di sản...

Sinh năm 1958, tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu là đại diện cho thế hệ “di dân” đầu tiên vào Sài Gòn sau sự kiện lịch sử 1975.  Gần 50 năm, hơn nửa đời người, chị buồn vui với mảnh đất này - cái mảnh đất mà chị đã viết trong tập tùy bút Sài Gòn bao giờ cũng thế của mình, là nơi “không chỉ là quê hương, là người thương trong trái tim lỗi nhịp khi nhớ về, Sài Gòn còn là một phần của cuộc đời ngắn ngủi…”.

Sài Gòn trong văn chương Nguyễn Thị Hậu không phải là thành phố xa hoa, không phải những tòa nhà chọc trời hay những tranh cãi về GDP mà là một Sài Gòn bình dị với những mảnh đời, những thân phận, những yêu thương qua con mắt quan sát và chiêm nghiệm của một nữ trí thức dành cả đời cho văn hóa và lịch sử của vùng đất này với một trái tim giàu lòng trắc ẩn.

“Sau cơn mưa, trời sẽ hửng lên thôi”…

Phóng viên: Hơn hai tháng giãn cách vì dịch bệnh, những ngày này của chị thế nào?

Tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu: Từ năm ngoái đến nay, nhịp sống của thành phố và của mỗi người đều bị chậm và hụt đi vài nhịp. Tôi cũng vậy, không thể khác! Công việc của một người về hưu không nhiều nhưng cũng có việc phải đúng hẹn. Hai tháng qua, gần như chúng tôi không được ra ngoài nên dù có nhiều thời gian nhưng hiệu quả làm việc không cao, vì tôi không thể đi thực tế hay tìm tài liệu, sách vở... Bù lại, tôi có thời gian xem phim, đọc sách nhiều hơn, sống chậm hơn - cũng là một dịp nạp thêm kiến thức và cảm xúc.

* Giữa những ngày Sài Gòn đang oằn mình để chiến đấu với COVID-19, những cuộc chiến giành giật sự sống và miếng cơm manh áo của hàng triệu người dân nơi đây khác với những “miền bình yên” trong văn, trong sách của chị?

- Thật tình, mỗi ngày của tôi đều có sự đối lập về cảm xúc. Mỗi sáng thức dậy với gia đình nhỏ của mình (mà bình thường không mấy khi có đủ mọi người) là cảm giác tạm yên tâm, dù có chút lo toan về thực phẩm, thuốc men hay chuyện này chuyện khác... Nhưng, chỉ cần giở trang báo hay lên mạng xem tin tức là lập tức tràn đầy cảm giác lo âu, buồn bực, thậm chí bức xúc. Chưa bao giờ sự bất an và lo lắng lại thường trực trong tôi nhiều và liên tục như vậy. Chứng kiến biết bao hoàn cảnh kiệt quệ, đói khổ, những gia đình khánh kiệt vì dịch bệnh, số người chết tăng cao… điều đó thật đáng sợ vì gần 50 năm sống ở Sài Gòn, chưa bao giờ tôi chứng kiến thành phố trong tình trạng như vậy.

Nhưng nói vậy không có nghĩa là thành phố chưa từng lâm nguy. Khoảng 90 năm trước, cuộc “đại suy thoái” 1929 - 1933 đã tác động nặng nề đến đời sống kinh tế ở Sài Gòn hay gần hơn là thời bao cấp, những năm 1976 - 1985. Lúc đó, thành phố cũng gặp tình trạng dân cư thất nghiệp, hàng chục ngàn người phải bỏ về quê, phải đi “kinh tế mới”... Kinh tế tiêu điều, đời sống khó khăn. Tuy nhiên, với sự năng động, không cam chịu, người Sài Gòn đã từng bước vượt qua, từ việc đồng lòng nhường cơm sẻ áo, luôn suy nghĩ tìm ra và thực hiện những cách thức mới, chưa đúng thì sửa sai ngay, không chỉ ngồi than thở mà luôn tự cứu mình.

Cũng giống như bây giờ, tôi nghĩ ý chí người Sài Gòn rất kiên cường và khó bị đánh gục. Thời gian qua dẫu khó khăn, đau thương như vậy, nhưng người Sài Gòn vẫn đùm bọc và yêu thương nhau như bao nhiêu năm nay. Những người ở tuyến đầu chống dịch luôn quên mình vì đồng bào với tinh thần “Lục Vân Tiên” thời hiện đại. Tôi tin, rồi trạng thái bình thường mới sẽ nhanh chóng được thiết lập. Sau cơn mưa, trời sẽ hửng lên thôi, với tất cả những yêu thương và sẻ chia.

* Không sinh ra ở Sài Gòn nhưng dường như chị luôn nặng lòng với thành phố này. Như trong cuốn Sài Gòn bao giờ cũng thế của chị, người ta thấy chị thương từng dòng kênh, từng con đường, những điều nhỏ bé dịu dàng. Điều gì mang đến cho chị những ân tình đó với đất và người nơi đây?

- Bạn dùng một từ mà tôi rất chịu, đó là “thương”. Người Nam bộ nói “thương” là nặng tình nặng nghĩa lắm. Tôi sống ở đây từ năm 17 tuổi, trải qua cả tuổi thanh niên, trung niên, đến nay đã vào tuổi về già, chứng kiến bao thay đổi của thành phố này. Tôi thương Sài Gòn vì con người ở đây bình dị lắm, cần làm thì làm ngay, từ trái tim, từ lẽ phải, không đao to búa lớn, không tính toán so đo, nếu có bị thiệt thòi thì cũng dễ bỏ qua.

Sài Gòn thường giấu trong mình những khoảng lặng êm đềm, những nốt lặng đau thương... mà chỉ bộc lộ những sôi động, những niềm vui. Tính cách này cũng từ hoàn cảnh lịch sử mà có. Như một con người từng trải, “phong cách hào hoa, phong lưu, nhưng tâm hồn chân tình và đa cảm, dù cuộc đời lúc sang trọng khi nghèo khó, lên xuống bầm dập nhưng không làm mất đi lòng nghĩa hiệp và nhân ái”, vậy nên Sài Gòn xứng đáng được tôn trọng, xứng đáng được nhiều yêu thương.

* Người ta hay nói đến Sài Gòn như một đô thị xa hoa, diễm lệ nhưng Sài Gòn trong văn chương của chị có vẻ hơi khác. Đó là những hoài niệm bình dị được chị kể lại với sự cân bằng giữa cảm xúc và lý trí, là những thông tin và kiến thức nghiêm cẩn về văn hóa, lịch sử kết hợp vừa vặn với những cảm xúc rất nữ tính. Đó là Sài Gòn của riêng chị?

- Có lẽ do bệnh nghề nghiệp là “đào bới” quá khứ để hiểu hiện tại nên tôi thường nhìn Sài Gòn từ cuộc sống đời thường và thấy mối liên hệ căn nguyên từ lịch sử. Mỗi người Sài Gòn hiện nay đều là phản chiếu hình ảnh lưu dân trăm năm trước, gánh gồng bồng bế nhau vào Nam khai hoang lập ấp. Vùng đất Nam bộ không đơn giản là được thiên nhiên ưu đãi mà biết bao nhiêu mồ hôi, máu và nước mắt, trí tuệ và tính mạng con người mất đi mới có được một đồng bằng sông Cửu Long trù phú, một đô thị Sài Gòn diễm lệ để nhiều người nhìn thấy.

Bên cạnh Sài Gòn hoa lệ còn có một Sài Gòn khác - Sài Gòn của xóm nhà lá kênh đen, hàng ngàn con hẻm của người bình dân, người tứ xứ. Một nghĩa nào đó, tôi cũng là người nhập cư sau 1975 nên tôi nhìn Sài Gòn bằng sự phân thân có phần khách quan. Tính tôi lại ưa ngồi “dưới đất” nên thường thấy điều bình dị quanh mình, những điều nhỏ bé làm cho cuộc sống vui hơn một chút, tốt hơn một chút. Vì vậy, khi tôi kể lại thì được nhiều người đồng cảm và thích thú.

* Hình như đang có nhiều tranh cãi xung quanh cụm từ “người Sài Gòn”, ý kiến của chị thế nào?

- Cụm từ “người Sài Gòn” trở lại phổ biến rộng rãi khoảng mười năm nay, bắt đầu từ một số quán cà phê, nhà hàng, quán ăn... mang tên Sài Gòn. Rồi nhiều người viết về Sài Gòn từ những kỷ niệm, ký ức đến chuyện đời sống hằng ngày... Mà lạ lắm, khi nói đến Sài Gòn, người ta luôn nói về con người Sài Gòn; về Sài Gòn tình nghĩa, bao dung. Thỉnh thoảng tôi vẫn đọc được những bài viết nho nhỏ trên báo chí và cả trên mạng xã hội, thấy phần lớn là người nhập cư kể chuyện tốt đẹp về Sài Gòn.

Tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu tại di tích Óc Eo - An Giang
Tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu tại di tích Óc Eo - An Giang

Văn hóa vùng miền vốn đa dạng, tốt đẹp hay xấu xí mỗi nơi đều có, ít nhiều khác nhau. Đừng nghĩ đặc điểm này hơn kém đặc điểm khác, đừng cho rằng chỉ có một chuẩn mực chung cho mọi vùng miền thì sẽ không có gì bất đồng đến mức gay gắt như hiện tượng trên mạng xã hội gần đây. 

Tôi cho rằng bao dung, tình nghĩa ở đâu cũng là một phẩm chất tốt đẹp cần được nhắc nhớ, lưu truyền. Song, ở Sài Gòn, lối ứng xử này thể hiện hằng ngày, ở mọi nơi, mọi tầng lớp, là biểu hiện cụ thể của khí chất “Lục Vân Tiên” Nam bộ. Cho nên nếu có nhắc đến phẩm chất này ở người Sài Gòn nhiều hơn một chút cũng là sự công bằng dành cho một nơi được coi là vùng đất mới, có lịch sử hình thành đặc biệt hơn nơi khác.  

"Đúng là càng thương Sài Gòn thì càng tiếc những gì đã mất. Công việc khảo cổ và nhiều năm nghiên cứu về lịch sử, văn hóa cũng có tác động quan trọng đến tình cảm của tôi dành cho Sài Gòn. Đây không phải là “vùng đất mới” theo nghĩa trước đây chưa từng có người sinh sống, khai phá và vùng đất này cũng không nghèo về văn hóa như người ta vẫn đánh giá. Có quá nhiều thứ đáng quý cần duy trì và bảo tồn ở mảnh đất này nhưng lại đang bị mai một và tôi thực sự luyến tiếc.

Không chỉ tiếc công trình, cảnh quan di sản bị hư hỏng, bị phá hủy, mà tôi còn tiếc vì những bài học “đến trễ”. Nếu chúng ta biết học hỏi những bài học ở những địa phương có điều kiện, hoàn cảnh như chúng ta; nếu không quá coi trọng lợi ích kinh tế trước mắt mà coi thường giá trị di sản bền lâu; nếu có sự hiểu biết văn hóa đô thị Sài Gòn với những đặc trưng độc đáo... thì chúng ta có thể đã có một Sài Gòn giàu đẹp hơn rất nhiều về mọi mặt."

Tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu

 

* Giữa những người (tạm gọi là) một lớp người Sài Gòn “đã cũ” (như chị và những người thuộc tầng lớp của chị) và lớp trẻ kế cận (như những học trò mà chị đang giảng dạy), dưới góc nhìn của một người làm khoa học, văn hóa, chị có thấy những sự khác biệt đáng kể?

- Khác biệt đầu tiên là thế hệ con tôi, học trò của tôi sinh ra và lớn lên trong hòa bình, thậm chí không biết đến thời bao cấp. Cuộc sống bình yên và ít trải nghiệm khiến họ tư duy đơn giản và nhanh hơn, đôi khi nhanh đến mức không kịp nghĩ xem việc mình làm có ảnh hưởng đến ai hay không. Mặt tích cực là vai trò cá nhân sớm khẳng định nhưng mặt hạn chế là đứt gãy truyền thống, nhất là văn hóa gia đình. Điều này làm cho các thế hệ ngày càng có sự cách biệt vì không chịu hiểu nhau.

Khác biệt nữa là thế hệ trẻ năng động, giỏi hơn nhiều vì hiểu biết nhiều lĩnh vực của xã hội hiện đại; cái nhìn về thực trạng xã hội lạc quan hơn, nhìn về quá khứ chiến tranh cũng đơn giản và thẳng thắn hơn. Việc tham gia hoạt động xã hội của các bạn có sự liên kết và lan tỏa nhanh, rất tích cực, mang lại hiệu quả cao.

* Sài Gòn không phải là quê hương nhưng có bao giờ chị nghĩ đây là bến tàu cuối cùng của cuộc đời mình?

- Quê tôi ở miền Tây, mà miền Tây với Sài Gòn thì như một. Vì vậy, tôi nghĩ mình đã sống ở đây thì khi chỉ còn lại nắm tro cũng nằm lại đây. Hy vọng thế!

Có “mở miệng” mới thoát khỏi “sự im lặng vàng mã”

* Hơn 60 tuổi, chị vẫn luôn nhiều năng lượng, tươi mới và nhiệt huyết. Tuổi tác hình như chưa bao giờ làm khó chị?

- Đâu có, tôi cũng mỏi mệt rồi chứ! Nhưng tính tôi lạc quan, nói đúng hơn là ít than thở, không hay kể lể, nên được nhiều bạn trẻ chơi chung, rồi được tiếp thêm năng lượng từ họ. Vả lại, nên vui vì còn sức khỏe để làm được điều gì đó có ích cho mình và gia đình, cho xã hội nữa thì càng tốt. 

* Người ta thấy một Nguyễn Thị Hậu khảo cổ cứng cỏi và kiên định nhưng cũng thấy một Nguyễn Thị Hậu khác với văn chương, với nhạc tình, nhạc “vàng” đầy nồng hậu và thiết tha. Đâu mới là bản ngã của chị? Hay cả hai đều là “những mặt khác nhau của một vấn đề”?

- Tôi nghĩ không ít người có biểu hiện như tôi, nhất là từ khi có Facebook. Với công việc hay nhiều hiện tượng xã hội, quan điểm của tôi luôn rõ ràng, có khi quyết liệt, dù tôi không quen đao to búa lớn. Tuy nhiên, trong sinh hoạt đời thường thì... phụ nữ mà, thế nào chẳng có lúc sống cảm tính. Mà bây giờ có nhiều thứ làm ta dễ bộc lộ cảm xúc lắm. Thông tin nhiều thế; tiếp xúc, va chạm trên mạng nhanh thế; phim ảnh, sách nhạc phong phú thế... tất cả đều có thể làm mình trở nên “sến súa” nhưng quan trọng hơn, cũng làm cho đời sống tinh thần ngày càng đa dạng, phong phú. Đừng từ chối những gì mang lại cho mình sự “giàu có” hơn.

* Chị từng xuất bản cuốn Thế giới mạng và tôi với những quan sát cẩn trọng và sâu sắc. Ngày ngày, tôi cũng đọc được nhiều bài viết chất lượng của chị trên Facebook. Vì sao chị chọn mạng xã hội để thể hiện tiếng nói 
của mình?

- Tôi sử dụng mạng xã hội chắc cũng gần 20 năm, nhờ đó học hỏi thêm được nhiều điều hữu ích; biết thêm nhiều người và chịu đựng cũng nhiều, kể cả sự “phán xét” của cộng đồng mạng. Lúc đầu, mạng xã hội là nơi chủ yếu để tôi giao tiếp với sinh viên, trao đổi bài giảng và các bài viết của tôi về một số vấn đề lịch sử, văn hóa mà các em quan tâm. Dần dần, qua trao đổi lại nảy sinh ý tưởng mới, lại viết... Sau này, đó là nơi tôi đăng lại những bài báo của mình, như lưu trữ tư liệu.

Sự tiến bộ của internet, sự ra đời của mạng xã hội đã mang lại cho con người khả năng tự do và tự chủ thể hiện bản thân, qua đó có thể nhận biết những cá nhân khác, nhận biết xã hội. Có “mở miệng” thì mới thoát khỏi “sự im lặng vàng mã” để tìm thấy vàng thật vì mỗi khi tiếp nhận những gì trái ngược hay khác lạ, ta phải nghĩ đi nghĩ lại, phải trao đổi, tranh luận... từ đó trưởng thành hơn, có khi trưởng thành ngay từ sai lầm của chính mình.

* Thế giới mạng ảo có khó hơn thế giới thật?

- Khó hơn chứ! Sử dụng mạng xã hội cũng là một cách làm cho mình có trách nhiệm hơn với bản thân và xã hội. Tôi coi mạng xã hội là một kênh thông tin nhanh, nhiều, trực tiếp nhưng mình cần biết chọn lọc, từ đó rèn kỹ năng nhận xét phán đoán cá nhân và xã hội. Tôi cũng có nhiều va vấp trong giao tiếp trên mạng vì thế giới ảo nhưng lại rất thật, rộng lớn, đa dạng và khó lường hơn.

Ta có thể cắt đứt một trường giao tiếp nào đó khi không đủ tin tưởng, không có sự tôn trọng nhau; có thể từ chối một mối liên hệ nào đó khi không còn sự đồng cảm chia sẻ. Đồng thời, trong thế giới mạng cần biết chấp nhận sự khác biệt, kể cả về quan điểm bởi thế giới mạng chính là thế giới thực ngoài đời mà con người biết đến nhau và giao tiếp nhờ một phương thức phi truyền thống.

* Người ta bảo thành công của phụ nữ không bao giờ là dễ dàng mà đó phải là sự cố gắng rất nhiều để cân bằng giữa gia đình, công việc và thế giới nội tâm. Chị làm thế nào để cân bằng tất cả những điều đó?  

- Không phải lúc nào cũng cân bằng được đâu. Cuộc đời công chức có chút chức vụ quản lý, rồi cuộc sống gia đình thời bao cấp, thời “mở cửa”... nhiều mệt mỏi và xáo trộn. Nhưng, như tôi từng trả lời đâu đó rằng, thành công của một phụ nữ (hiện đại) là làm sao không để cho gia đình và công việc trở thành đối trọng. Nói văn vẻ thì thế, còn đơn giản thì ở không gian nào mình có vị trí ấy. Hiểu chỗ đứng của mình thì ở đâu mình cũng thoải mái. Sự cân bằng là thế chăng?

Thế giới nội tâm của phụ nữ không nhất thiết phải được chia sẻ với ai, có thể tùy tâm trạng hoàn cảnh mà bộc lộ theo cách khác nhau. Với tôi, viết là cách tôi thấy tự do thoải mái nhất.

* Tôi từng đọc được một câu chị viết - “Nếu phải sống cuộc đời trái với tính cách của mình thì nhất định có lúc tôi sẽ bứt tung ra mà làm lại từ đầu”. Chị đã thực sự hài lòng với cuộc sống hiện tại chưa?

- Ở tuổi tôi, nói hoàn toàn hài lòng thì không hẳn nhưng ít nhất tôi được sống đúng với mình, dù va vấp nhiều, dù có điều không như mong muốn. Bởi vì “Trong lòng bàn tay có ba con đường nhưng con đường nào ngoài cuộc sống cũng là do mình chọn... Tính cách tạo nên số phận. Số phận mình nằm trong lòng bàn tay mình đấy thôi…”, như tôi từng tự nhủ trong một bài tạp bút.

* Cảm ơn chị đã chia sẻ. 

Lan Anh (thực hiện)

Ảnh: Nhân vật cung cấp

 

 
Array ( [news_id] => 1443678 [news_title] => Tiến sĩ khảo cổ Nguyễn Thị Hậu: Sài Gòn với tôi là người thương [news_title_seo] => Tiến sĩ khảo cổ Nguyễn Thị Hậu: Sài Gòn với tôi là người thương [news_supertitle] => [news_picture] => pncn29-tien-si-khao-co-nguyen-thi-_1629353549.jpg [news_subcontent] => Sinh năm 1958, tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu là đại diện cho thế hệ “di dân” đầu tiên vào Sài Gòn sau sự kiện lịch sử 1975. [news_subcontent_seo] => Sinh năm 1958, tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu là đại diện cho thế hệ “di dân” đầu tiên vào Sài Gòn sau sự kiện lịch sử 1975. [news_headline] => Sinh năm 1958, tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu là đại diện cho thế hệ “di dân” đầu tiên vào Sài Gòn sau sự kiện lịch sử 1975. Gần 50 năm, hơn nửa đời người, chị buồn vui với mảnh đất Sài Gòn. [news_content] =>

Tiễn sĩ Nguyễn Thị Hậu (còn gọi là Hậu khảo cổ) sinh năm 1958 tại Hà Nội, quê gốc ở xã Mỹ Hiệp, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Năm 1954, gia đình chị tập kết ra miền Bắc. Năm 1975, chị về Sài Gòn sinh sống, làm việc và gắn bó đến tận bây giờ. Chị có bằng tiến sĩ khảo cổ học, từng làm việc tại Bảo tàng Lịch sử TP.HCM, nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển TP.HCM.

Hiện nay, chị là Phó Tổng thư ký Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, Tổng Thư ký Hội Sử học TP.HCM, tham gia giảng dạy ở Trường đại học Khoa học xã hội và Nhân văn TP.HCM. Ngoài chuyên ngành khảo cổ, tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu còn nghiên cứu về lịch sử, văn hóa vùng đất Nam bộ. Một số chuyên khảo và tùy bút văn hóa của Nguyễn Thị Hậu đã xuất bản: Đi và tìm trong đất, Khảo cổ học bình dân Nam bộ - Việt Nam, Buổi trưa trong quán cà phê, Văn hóa khảo cổ huyện Cần Giờ (TP.HCM), Thế giới mạng và tôi, Sài Gòn bao giờ cũng thế, Cách nhau chỉ một giấc mơ, Đô thị Sài Gòn - TP.HCM: Khảo cổ học và bảo tồn di sản...

Sinh năm 1958, tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu là đại diện cho thế hệ “di dân” đầu tiên vào Sài Gòn sau sự kiện lịch sử 1975.  Gần 50 năm, hơn nửa đời người, chị buồn vui với mảnh đất này - cái mảnh đất mà chị đã viết trong tập tùy bút Sài Gòn bao giờ cũng thế của mình, là nơi “không chỉ là quê hương, là người thương trong trái tim lỗi nhịp khi nhớ về, Sài Gòn còn là một phần của cuộc đời ngắn ngủi…”.

Sài Gòn trong văn chương Nguyễn Thị Hậu không phải là thành phố xa hoa, không phải những tòa nhà chọc trời hay những tranh cãi về GDP mà là một Sài Gòn bình dị với những mảnh đời, những thân phận, những yêu thương qua con mắt quan sát và chiêm nghiệm của một nữ trí thức dành cả đời cho văn hóa và lịch sử của vùng đất này với một trái tim giàu lòng trắc ẩn.

“Sau cơn mưa, trời sẽ hửng lên thôi”…

Phóng viên: Hơn hai tháng giãn cách vì dịch bệnh, những ngày này của chị thế nào?

Tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu: Từ năm ngoái đến nay, nhịp sống của thành phố và của mỗi người đều bị chậm và hụt đi vài nhịp. Tôi cũng vậy, không thể khác! Công việc của một người về hưu không nhiều nhưng cũng có việc phải đúng hẹn. Hai tháng qua, gần như chúng tôi không được ra ngoài nên dù có nhiều thời gian nhưng hiệu quả làm việc không cao, vì tôi không thể đi thực tế hay tìm tài liệu, sách vở... Bù lại, tôi có thời gian xem phim, đọc sách nhiều hơn, sống chậm hơn - cũng là một dịp nạp thêm kiến thức và cảm xúc.

* Giữa những ngày Sài Gòn đang oằn mình để chiến đấu với COVID-19, những cuộc chiến giành giật sự sống và miếng cơm manh áo của hàng triệu người dân nơi đây khác với những “miền bình yên” trong văn, trong sách của chị?

- Thật tình, mỗi ngày của tôi đều có sự đối lập về cảm xúc. Mỗi sáng thức dậy với gia đình nhỏ của mình (mà bình thường không mấy khi có đủ mọi người) là cảm giác tạm yên tâm, dù có chút lo toan về thực phẩm, thuốc men hay chuyện này chuyện khác... Nhưng, chỉ cần giở trang báo hay lên mạng xem tin tức là lập tức tràn đầy cảm giác lo âu, buồn bực, thậm chí bức xúc. Chưa bao giờ sự bất an và lo lắng lại thường trực trong tôi nhiều và liên tục như vậy. Chứng kiến biết bao hoàn cảnh kiệt quệ, đói khổ, những gia đình khánh kiệt vì dịch bệnh, số người chết tăng cao… điều đó thật đáng sợ vì gần 50 năm sống ở Sài Gòn, chưa bao giờ tôi chứng kiến thành phố trong tình trạng như vậy.

Nhưng nói vậy không có nghĩa là thành phố chưa từng lâm nguy. Khoảng 90 năm trước, cuộc “đại suy thoái” 1929 - 1933 đã tác động nặng nề đến đời sống kinh tế ở Sài Gòn hay gần hơn là thời bao cấp, những năm 1976 - 1985. Lúc đó, thành phố cũng gặp tình trạng dân cư thất nghiệp, hàng chục ngàn người phải bỏ về quê, phải đi “kinh tế mới”... Kinh tế tiêu điều, đời sống khó khăn. Tuy nhiên, với sự năng động, không cam chịu, người Sài Gòn đã từng bước vượt qua, từ việc đồng lòng nhường cơm sẻ áo, luôn suy nghĩ tìm ra và thực hiện những cách thức mới, chưa đúng thì sửa sai ngay, không chỉ ngồi than thở mà luôn tự cứu mình.

Cũng giống như bây giờ, tôi nghĩ ý chí người Sài Gòn rất kiên cường và khó bị đánh gục. Thời gian qua dẫu khó khăn, đau thương như vậy, nhưng người Sài Gòn vẫn đùm bọc và yêu thương nhau như bao nhiêu năm nay. Những người ở tuyến đầu chống dịch luôn quên mình vì đồng bào với tinh thần “Lục Vân Tiên” thời hiện đại. Tôi tin, rồi trạng thái bình thường mới sẽ nhanh chóng được thiết lập. Sau cơn mưa, trời sẽ hửng lên thôi, với tất cả những yêu thương và sẻ chia.

* Không sinh ra ở Sài Gòn nhưng dường như chị luôn nặng lòng với thành phố này. Như trong cuốn Sài Gòn bao giờ cũng thế của chị, người ta thấy chị thương từng dòng kênh, từng con đường, những điều nhỏ bé dịu dàng. Điều gì mang đến cho chị những ân tình đó với đất và người nơi đây?

- Bạn dùng một từ mà tôi rất chịu, đó là “thương”. Người Nam bộ nói “thương” là nặng tình nặng nghĩa lắm. Tôi sống ở đây từ năm 17 tuổi, trải qua cả tuổi thanh niên, trung niên, đến nay đã vào tuổi về già, chứng kiến bao thay đổi của thành phố này. Tôi thương Sài Gòn vì con người ở đây bình dị lắm, cần làm thì làm ngay, từ trái tim, từ lẽ phải, không đao to búa lớn, không tính toán so đo, nếu có bị thiệt thòi thì cũng dễ bỏ qua.

Sài Gòn thường giấu trong mình những khoảng lặng êm đềm, những nốt lặng đau thương... mà chỉ bộc lộ những sôi động, những niềm vui. Tính cách này cũng từ hoàn cảnh lịch sử mà có. Như một con người từng trải, “phong cách hào hoa, phong lưu, nhưng tâm hồn chân tình và đa cảm, dù cuộc đời lúc sang trọng khi nghèo khó, lên xuống bầm dập nhưng không làm mất đi lòng nghĩa hiệp và nhân ái”, vậy nên Sài Gòn xứng đáng được tôn trọng, xứng đáng được nhiều yêu thương.

* Người ta hay nói đến Sài Gòn như một đô thị xa hoa, diễm lệ nhưng Sài Gòn trong văn chương của chị có vẻ hơi khác. Đó là những hoài niệm bình dị được chị kể lại với sự cân bằng giữa cảm xúc và lý trí, là những thông tin và kiến thức nghiêm cẩn về văn hóa, lịch sử kết hợp vừa vặn với những cảm xúc rất nữ tính. Đó là Sài Gòn của riêng chị?

- Có lẽ do bệnh nghề nghiệp là “đào bới” quá khứ để hiểu hiện tại nên tôi thường nhìn Sài Gòn từ cuộc sống đời thường và thấy mối liên hệ căn nguyên từ lịch sử. Mỗi người Sài Gòn hiện nay đều là phản chiếu hình ảnh lưu dân trăm năm trước, gánh gồng bồng bế nhau vào Nam khai hoang lập ấp. Vùng đất Nam bộ không đơn giản là được thiên nhiên ưu đãi mà biết bao nhiêu mồ hôi, máu và nước mắt, trí tuệ và tính mạng con người mất đi mới có được một đồng bằng sông Cửu Long trù phú, một đô thị Sài Gòn diễm lệ để nhiều người nhìn thấy.

Bên cạnh Sài Gòn hoa lệ còn có một Sài Gòn khác - Sài Gòn của xóm nhà lá kênh đen, hàng ngàn con hẻm của người bình dân, người tứ xứ. Một nghĩa nào đó, tôi cũng là người nhập cư sau 1975 nên tôi nhìn Sài Gòn bằng sự phân thân có phần khách quan. Tính tôi lại ưa ngồi “dưới đất” nên thường thấy điều bình dị quanh mình, những điều nhỏ bé làm cho cuộc sống vui hơn một chút, tốt hơn một chút. Vì vậy, khi tôi kể lại thì được nhiều người đồng cảm và thích thú.

* Hình như đang có nhiều tranh cãi xung quanh cụm từ “người Sài Gòn”, ý kiến của chị thế nào?

- Cụm từ “người Sài Gòn” trở lại phổ biến rộng rãi khoảng mười năm nay, bắt đầu từ một số quán cà phê, nhà hàng, quán ăn... mang tên Sài Gòn. Rồi nhiều người viết về Sài Gòn từ những kỷ niệm, ký ức đến chuyện đời sống hằng ngày... Mà lạ lắm, khi nói đến Sài Gòn, người ta luôn nói về con người Sài Gòn; về Sài Gòn tình nghĩa, bao dung. Thỉnh thoảng tôi vẫn đọc được những bài viết nho nhỏ trên báo chí và cả trên mạng xã hội, thấy phần lớn là người nhập cư kể chuyện tốt đẹp về Sài Gòn.

Tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu tại di tích Óc Eo - An Giang
Tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu tại di tích Óc Eo - An Giang

Văn hóa vùng miền vốn đa dạng, tốt đẹp hay xấu xí mỗi nơi đều có, ít nhiều khác nhau. Đừng nghĩ đặc điểm này hơn kém đặc điểm khác, đừng cho rằng chỉ có một chuẩn mực chung cho mọi vùng miền thì sẽ không có gì bất đồng đến mức gay gắt như hiện tượng trên mạng xã hội gần đây. 

Tôi cho rằng bao dung, tình nghĩa ở đâu cũng là một phẩm chất tốt đẹp cần được nhắc nhớ, lưu truyền. Song, ở Sài Gòn, lối ứng xử này thể hiện hằng ngày, ở mọi nơi, mọi tầng lớp, là biểu hiện cụ thể của khí chất “Lục Vân Tiên” Nam bộ. Cho nên nếu có nhắc đến phẩm chất này ở người Sài Gòn nhiều hơn một chút cũng là sự công bằng dành cho một nơi được coi là vùng đất mới, có lịch sử hình thành đặc biệt hơn nơi khác.  

"Đúng là càng thương Sài Gòn thì càng tiếc những gì đã mất. Công việc khảo cổ và nhiều năm nghiên cứu về lịch sử, văn hóa cũng có tác động quan trọng đến tình cảm của tôi dành cho Sài Gòn. Đây không phải là “vùng đất mới” theo nghĩa trước đây chưa từng có người sinh sống, khai phá và vùng đất này cũng không nghèo về văn hóa như người ta vẫn đánh giá. Có quá nhiều thứ đáng quý cần duy trì và bảo tồn ở mảnh đất này nhưng lại đang bị mai một và tôi thực sự luyến tiếc.

Không chỉ tiếc công trình, cảnh quan di sản bị hư hỏng, bị phá hủy, mà tôi còn tiếc vì những bài học “đến trễ”. Nếu chúng ta biết học hỏi những bài học ở những địa phương có điều kiện, hoàn cảnh như chúng ta; nếu không quá coi trọng lợi ích kinh tế trước mắt mà coi thường giá trị di sản bền lâu; nếu có sự hiểu biết văn hóa đô thị Sài Gòn với những đặc trưng độc đáo... thì chúng ta có thể đã có một Sài Gòn giàu đẹp hơn rất nhiều về mọi mặt."

Tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu

 

* Giữa những người (tạm gọi là) một lớp người Sài Gòn “đã cũ” (như chị và những người thuộc tầng lớp của chị) và lớp trẻ kế cận (như những học trò mà chị đang giảng dạy), dưới góc nhìn của một người làm khoa học, văn hóa, chị có thấy những sự khác biệt đáng kể?

- Khác biệt đầu tiên là thế hệ con tôi, học trò của tôi sinh ra và lớn lên trong hòa bình, thậm chí không biết đến thời bao cấp. Cuộc sống bình yên và ít trải nghiệm khiến họ tư duy đơn giản và nhanh hơn, đôi khi nhanh đến mức không kịp nghĩ xem việc mình làm có ảnh hưởng đến ai hay không. Mặt tích cực là vai trò cá nhân sớm khẳng định nhưng mặt hạn chế là đứt gãy truyền thống, nhất là văn hóa gia đình. Điều này làm cho các thế hệ ngày càng có sự cách biệt vì không chịu hiểu nhau.

Khác biệt nữa là thế hệ trẻ năng động, giỏi hơn nhiều vì hiểu biết nhiều lĩnh vực của xã hội hiện đại; cái nhìn về thực trạng xã hội lạc quan hơn, nhìn về quá khứ chiến tranh cũng đơn giản và thẳng thắn hơn. Việc tham gia hoạt động xã hội của các bạn có sự liên kết và lan tỏa nhanh, rất tích cực, mang lại hiệu quả cao.

* Sài Gòn không phải là quê hương nhưng có bao giờ chị nghĩ đây là bến tàu cuối cùng của cuộc đời mình?

- Quê tôi ở miền Tây, mà miền Tây với Sài Gòn thì như một. Vì vậy, tôi nghĩ mình đã sống ở đây thì khi chỉ còn lại nắm tro cũng nằm lại đây. Hy vọng thế!

Có “mở miệng” mới thoát khỏi “sự im lặng vàng mã”

* Hơn 60 tuổi, chị vẫn luôn nhiều năng lượng, tươi mới và nhiệt huyết. Tuổi tác hình như chưa bao giờ làm khó chị?

- Đâu có, tôi cũng mỏi mệt rồi chứ! Nhưng tính tôi lạc quan, nói đúng hơn là ít than thở, không hay kể lể, nên được nhiều bạn trẻ chơi chung, rồi được tiếp thêm năng lượng từ họ. Vả lại, nên vui vì còn sức khỏe để làm được điều gì đó có ích cho mình và gia đình, cho xã hội nữa thì càng tốt. 

* Người ta thấy một Nguyễn Thị Hậu khảo cổ cứng cỏi và kiên định nhưng cũng thấy một Nguyễn Thị Hậu khác với văn chương, với nhạc tình, nhạc “vàng” đầy nồng hậu và thiết tha. Đâu mới là bản ngã của chị? Hay cả hai đều là “những mặt khác nhau của một vấn đề”?

- Tôi nghĩ không ít người có biểu hiện như tôi, nhất là từ khi có Facebook. Với công việc hay nhiều hiện tượng xã hội, quan điểm của tôi luôn rõ ràng, có khi quyết liệt, dù tôi không quen đao to búa lớn. Tuy nhiên, trong sinh hoạt đời thường thì... phụ nữ mà, thế nào chẳng có lúc sống cảm tính. Mà bây giờ có nhiều thứ làm ta dễ bộc lộ cảm xúc lắm. Thông tin nhiều thế; tiếp xúc, va chạm trên mạng nhanh thế; phim ảnh, sách nhạc phong phú thế... tất cả đều có thể làm mình trở nên “sến súa” nhưng quan trọng hơn, cũng làm cho đời sống tinh thần ngày càng đa dạng, phong phú. Đừng từ chối những gì mang lại cho mình sự “giàu có” hơn.

* Chị từng xuất bản cuốn Thế giới mạng và tôi với những quan sát cẩn trọng và sâu sắc. Ngày ngày, tôi cũng đọc được nhiều bài viết chất lượng của chị trên Facebook. Vì sao chị chọn mạng xã hội để thể hiện tiếng nói 
của mình?

- Tôi sử dụng mạng xã hội chắc cũng gần 20 năm, nhờ đó học hỏi thêm được nhiều điều hữu ích; biết thêm nhiều người và chịu đựng cũng nhiều, kể cả sự “phán xét” của cộng đồng mạng. Lúc đầu, mạng xã hội là nơi chủ yếu để tôi giao tiếp với sinh viên, trao đổi bài giảng và các bài viết của tôi về một số vấn đề lịch sử, văn hóa mà các em quan tâm. Dần dần, qua trao đổi lại nảy sinh ý tưởng mới, lại viết... Sau này, đó là nơi tôi đăng lại những bài báo của mình, như lưu trữ tư liệu.

Sự tiến bộ của internet, sự ra đời của mạng xã hội đã mang lại cho con người khả năng tự do và tự chủ thể hiện bản thân, qua đó có thể nhận biết những cá nhân khác, nhận biết xã hội. Có “mở miệng” thì mới thoát khỏi “sự im lặng vàng mã” để tìm thấy vàng thật vì mỗi khi tiếp nhận những gì trái ngược hay khác lạ, ta phải nghĩ đi nghĩ lại, phải trao đổi, tranh luận... từ đó trưởng thành hơn, có khi trưởng thành ngay từ sai lầm của chính mình.

* Thế giới mạng ảo có khó hơn thế giới thật?

- Khó hơn chứ! Sử dụng mạng xã hội cũng là một cách làm cho mình có trách nhiệm hơn với bản thân và xã hội. Tôi coi mạng xã hội là một kênh thông tin nhanh, nhiều, trực tiếp nhưng mình cần biết chọn lọc, từ đó rèn kỹ năng nhận xét phán đoán cá nhân và xã hội. Tôi cũng có nhiều va vấp trong giao tiếp trên mạng vì thế giới ảo nhưng lại rất thật, rộng lớn, đa dạng và khó lường hơn.

Ta có thể cắt đứt một trường giao tiếp nào đó khi không đủ tin tưởng, không có sự tôn trọng nhau; có thể từ chối một mối liên hệ nào đó khi không còn sự đồng cảm chia sẻ. Đồng thời, trong thế giới mạng cần biết chấp nhận sự khác biệt, kể cả về quan điểm bởi thế giới mạng chính là thế giới thực ngoài đời mà con người biết đến nhau và giao tiếp nhờ một phương thức phi truyền thống.

* Người ta bảo thành công của phụ nữ không bao giờ là dễ dàng mà đó phải là sự cố gắng rất nhiều để cân bằng giữa gia đình, công việc và thế giới nội tâm. Chị làm thế nào để cân bằng tất cả những điều đó?  

- Không phải lúc nào cũng cân bằng được đâu. Cuộc đời công chức có chút chức vụ quản lý, rồi cuộc sống gia đình thời bao cấp, thời “mở cửa”... nhiều mệt mỏi và xáo trộn. Nhưng, như tôi từng trả lời đâu đó rằng, thành công của một phụ nữ (hiện đại) là làm sao không để cho gia đình và công việc trở thành đối trọng. Nói văn vẻ thì thế, còn đơn giản thì ở không gian nào mình có vị trí ấy. Hiểu chỗ đứng của mình thì ở đâu mình cũng thoải mái. Sự cân bằng là thế chăng?

Thế giới nội tâm của phụ nữ không nhất thiết phải được chia sẻ với ai, có thể tùy tâm trạng hoàn cảnh mà bộc lộ theo cách khác nhau. Với tôi, viết là cách tôi thấy tự do thoải mái nhất.

* Tôi từng đọc được một câu chị viết - “Nếu phải sống cuộc đời trái với tính cách của mình thì nhất định có lúc tôi sẽ bứt tung ra mà làm lại từ đầu”. Chị đã thực sự hài lòng với cuộc sống hiện tại chưa?

- Ở tuổi tôi, nói hoàn toàn hài lòng thì không hẳn nhưng ít nhất tôi được sống đúng với mình, dù va vấp nhiều, dù có điều không như mong muốn. Bởi vì “Trong lòng bàn tay có ba con đường nhưng con đường nào ngoài cuộc sống cũng là do mình chọn... Tính cách tạo nên số phận. Số phận mình nằm trong lòng bàn tay mình đấy thôi…”, như tôi từng tự nhủ trong một bài tạp bút.

* Cảm ơn chị đã chia sẻ. 

Lan Anh (thực hiện)

Ảnh: Nhân vật cung cấp

 

[news_source] => [news_tag] => người Sài Gòn,Sài Gòn tình nghĩa,Sài Gòn bao giờ cũng thế,tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu [news_status] => 6 [news_createdate] => 2021-08-19 13:11:36 [news_date] => [news_publicdate] => 2021-08-21 07:00:02 [news_relate_news] => 1411587, [newcol_id] => 0 [newevent_id] => 0 [newcate_code1] => van-hoa [newcate_code2] => nhan-vat-tac-pham [news_copyright] => 1 [news_url] => [news_urlid] => [onevent_id] => 0 [survey_id] => [news_lang] => vi [news_link] => [news_iscomment] => 1 [news_type] => 0 [news_numview] => 2667 [news_is_not_ads] => [news_is_not_follow] => [news_is_not_preroll] => [news_link_public] => https://www.phunuonline.com.vn/tien-si-khao-co-nguyen-thi-hau-sai-gon-voi-toi-la-nguoi-thuong-a1443678.html [tag] => người Sài GònSài Gòn tình nghĩaSài Gòn bao giờ cũng thếtiến sĩ Nguyễn Thị Hậu [daynews2] => 2021-08-21 07:00 [daynews] => 21/08/2021 - 07:00 )
news_is_not_ads=
TIN MỚI