"Có vàng mình rất yên tâm"
Bà Phương Quyên (phường Tân Mỹ, TPHCM) kể, mỗi khi nhận lương hưu hằng tháng, bà đều trích một phần để mua vàng bởi muốn mua nhiều ít đều được, mua xong thì vàng vẫn còn đó. Trong khi đó, muốn đầu tư chứng khoán thì phải am hiểu lĩnh vực, muốn mua bất động sản thì phải có khoản tiền lớn. Với nguồn thu nhỏ, mua vàng cất là phù hợp nhất.
Bà cho hay, gia đình bà có truyền thống tích trữ vàng từ nhiều đời. Mỗi lễ cưới, mừng thọ, người trong gia tộc đều tặng vàng. Khi gặp bất trắc, biến cố, mọi người cũng bán vàng, lấy tiền xoay xở, rất tiện. Bà nói: “Có vàng, mình rất yên tâm”.
Không chỉ người lớn tuổi, một bộ phận giới trẻ cũng chọn vàng như một hình thức “bỏ ống heo”. Nếu trữ tiền mặt, họ dễ đem ra chi xài nhưng khi đã mua vàng, họ sẽ cố giữ. Anh Đăng Khoa - 31 tuổi, nhân viên công ty truyền thông - cho hay, mỗi tháng, anh đều cố gắng mua nửa chỉ vàng để dành, sau này có cưới vợ hay mua nhà thì dùng đến.
 |
| Nhiều người chờ mua vàng tại Công ty TNHH Mi Hồng (phường Bình Thạnh, TPHCM) hồi tháng 1/2026, lúc giá vàng tăng cao |
Với anh Hữu Duy - trưởng phòng kế toán của một công ty xây dựng - mua vàng là cách đầu tư an toàn, sinh lời cao trong dài hạn. Anh dẫn chứng, cách đây 10 năm, giá vàng miếng SJC khoảng 36 triệu đồng/lượng, nay vọt lên 170 triệu đồng/lượng, có lúc gần 192 triệu đồng/lượng. Như vậy, người giữ vàng lãi ít nhất 134 triệu đồng và nhiều nhất 156 triệu đồng/lượng chỉ trong 10 năm. Nếu mang số tiền trên gửi tiết kiệm với lãi suất cố định 7%/năm trong 10 năm thì chỉ lãi khoảng hơn 25 triệu đồng.
Với nhiều người dân, vàng vừa là tài sản tích trữ sinh lời, vừa như một loại bảo hiểm phòng ngừa rủi ro. Muốn người dân hạn chế trữ vàng, đưa vàng đang nắm giữ vào nền kinh tế, phải đảm bảo nhiều điều kiện.
Trả lãi cho số vàng ký gửi
Trong cuộc họp với Ngân hàng Nhà nước ngày 29/4, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng cho rằng, Nhà nước không khuyến khích người dân nắm giữ vàng bởi nó không tạo giá trị gia tăng cho nền kinh tế. Ngành ngân hàng cần có cơ chế quản lý thị trường vàng, hạn chế tối đa tình trạng găm giữ và đầu cơ vàng.
Ông nói, khi nền tảng kinh tế vĩ mô ổn định, pháp lý minh bạch, người dân và doanh nghiệp sẽ giảm tích trữ vàng, chuyển sang sản xuất, kinh doanh hoặc gửi tiền vào ngân hàng, tạo nguồn lực cho tăng trưởng.
Tiến sĩ Nguyễn Trí Hiếu - Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Phát triển thị trường tài chính và bất động sản toàn cầu - nhận định, lượng vàng trong dân có thể lên tới 500 tấn. “Đóng băng” nguồn lực này trong két sắt là một sự lãng phí lớn, bởi vàng không chỉ là kim loại quý phục vụ công nghiệp mà còn là tài sản thế chấp hữu hiệu để Nhà nước vay vốn quốc tế hoặc làm công cụ tài chính mạnh mẽ.
Nhưng theo ông, khuyên người dân không giữ vàng là thiếu thực tế bởi với nhiều người, vàng là một kênh tự bảo hiểm khi họ thiếu các gói bảo hiểm nhân thọ hay sức khỏe. Đó là tài sản phòng thân chính đáng khi có sự cố. Mục đích giữ vàng của họ là chính đáng, không phải để kiếm lời. Cũng có người mua vàng mua nhà, nhằm hưởng lợi khi vàng tăng giá.
Ông cho rằng, để người dân giảm tích trữ vàng, thay vì can thiệp bằng mệnh lệnh hành chính, Chính phủ nên định hướng và kiến tạo cơ chế để dòng vốn này tự nguyện chảy vào nền kinh tế. Muốn huy động vàng trong dân thành công, phải giải quyết được bài toán niềm tin. Người dân chỉ cảm thấy an toàn khi tự tay nắm giữ vàng trong nhà. Muốn thay đổi thói quen này, cần 2 điều kiện chính: cơ quan nhận giữ vàng cho dân phải có độ đáng tin cậy cao nhất; trả lãi cho số vàng ký gửi để tạo sự hấp dẫn.
Ông nói: “Cơ quan nhận giữ vàng có thể là Ngân hàng Nhà nước hoặc Bộ Tài chính. Phải đảm bảo rằng người dân có thể rút vàng bất cứ lúc nào, đúng loại vàng, chất lượng, nhãn hiệu đã gửi. Mức lãi trả cho số vàng ký gửi nên vào khoảng 3%/năm. Các ngân hàng thương mại có thể làm đầu mối thu giữ vàng trên danh nghĩa Ngân hàng Nhà nước, nhưng chứng chỉ vàng phải do Ngân hàng Nhà nước phát hành và chịu trách nhiệm cuối cùng”.
Cũng theo ông Nguyễn Trí Hiếu, chứng chỉ vàng phải có tính thanh khoản cao. Nếu người dân rút vàng trước hạn có thể bị phạt lãi, như tiền gửi có kỳ hạn. Với uy tín của Ngân hàng Nhà nước cùng các điều kiện đảm bảo, người dân sẽ dần hình thành thói quen gửi vàng thay vì giữ trong nhà. Song song đó, việc thành lập sàn giao dịch vàng quốc gia là cần thiết để minh bạch hóa thị trường. Khi thành lập sàn vàng, cần có lộ trình bắt buộc theo 3 giai đoạn: đầu tiên là chỉ giao dịch vàng nguyên liệu trong nước; giai đoạn 2 mở rộng các sản phẩm tài chính liên quan; giai đoạn 3 cho phép giao dịch phái sinh và liên thông với các sàn vàng thế giới.
Giảm mua vàng nếu có các kênh đầu tư khác hấp dẫn Việc người dân chuộng giữ vàng xuất phát từ nhu cầu có một loại tài sản phòng thân thực thụ, nhất là khi họ vẫn lo ngại về sự mất giá của tiền đồng. Đây là nhu cầu cần được tôn trọng. Để giảm sức hấp dẫn của việc tích trữ vàng vật chất, trước hết, cần những bước đi chiến lược nhằm củng cố sự ổn định của đồng tiền. Thay vì chỉ ổn định về mặt hình thức, cần phải đảm bảo giá trị thực chất của đồng nội tệ, tạo nền tảng vững chắc cho các kênh đầu tư khác bứt phá. Khi đó, thay vì chỉ mua vàng, người dân có thể lựa chọn chứng khoán hay các tài sản số... Khi nhận thấy các kênh đầu tư khác vừa sinh lời tốt, vừa có sự an toàn nhất định, họ sẽ tự khắc cân nhắc chuyển đổi. Việc đa dạng hóa các kênh đầu tư hiệu quả, đi kèm cơ chế bảo vệ nhà đầu tư chặt chẽ chính là chìa khóa để khơi thông lượng vàng đang nằm im trong dân. Thành lập sàn giao dịch vàng quốc gia là phương thức quản lý hiện đại. Tuy nhiên, để người dân thực sự yên tâm “chọn mặt gửi vàng”, sàn vàng cần hội đủ 2 yếu tố then chốt: phải thiết lập một đơn vị lưu ký vàng uy tín được Nhà nước bảo chứng; Nhà nước cần áp đặt các tiêu chuẩn khắt khe, thường xuyên kiểm soát năng lực tài chính của sàn để triệt tiêu tình trạng bán khống (rao bán vàng ảo). Ở các nước phát triển, đồng tiền có sức mua ổn định nên vàng chỉ được coi là một công cụ tài chính thay vì tài sản trú ẩn tuyệt đối như ở Việt Nam. Một số nước đã huy động hiệu quả nguồn lực này thông qua việc phát hành trái phiếu vàng. Hình thức mua vàng trên giấy, sau này tất toán theo giá trị vàng tại thời điểm trả kèm lãi suất sẽ rất hấp dẫn. Mức lãi này thường cao hơn trái phiếu Chính phủ nhưng thấp hơn trái phiếu doanh nghiệp, tạo ra lợi ích kép hơn hẳn việc cất vàng dưới gối. Người dân sẽ sẵn sàng gửi vàng nếu có cơ chế vận hành linh hoạt, như được phép sử dụng chứng chỉ gửi vàng làm tài sản thế chấp để vay vốn ngân hàng. Bên cạnh đó, các ngân hàng có thể triển khai sản phẩm “rút vốn linh hoạt”, cho phép người dân rút một phần tài sản trước hạn để giải quyết nhu cầu cấp bách, phần còn lại vẫn được giữ nguyên lãi suất ban đầu. Tất nhiên, tính linh hoạt càng cao thì lãi suất sẽ được điều chỉnh tương ứng để đảm bảo cân bằng lợi ích giữa các bên. Việc phát triển sàn giao dịch vàng hay các công cụ tài chính phái sinh từ vàng cần lộ trình bài bản, chuẩn bị kỹ lưỡng. Mục tiêu tối thượng là xây dựng lòng tin bền vững trong nhân dân, tránh tâm lý nôn nóng, vội vàng dẫn đến những hệ lụy khó cứu vãn về sau. Tiến sĩ Phan Phương Nam - Phó trưởng khoa Luật Thương mại, Trường đại học Luật TPHCM |
Thanh Hoa