Người phụ nữ giữ nhịp trống chầu trong lễ hội Cầu Ngư

04/05/2026 - 05:29

PNO - Khi nhịp trống chầu vang lên trong đêm lễ hội Cầu Ngư, không gian trước đình Trường Đông (phường Nam Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa) bỗng khác đi. Ánh đèn màu hắt lên rực rỡ, những gương mặt hóa trang cầu kỳ lần lượt xuất hiện trên sân khấu. Giữa lớp lớp nhân vật cổ trang ấy, một người phụ nữ bước ra với thần thái đĩnh đạc - chị Nguyễn Như Ngọc.

Tuổi thơ “tự dựng sân khấu” bên bờ biển

Ít ai biết, phía sau ánh hào quang ấy là một người phụ nữ vừa rời khỏi căn bếp, vừa gói ghém lại cuộc mưu sinh đời thường. Và cũng ít ai biết, chị đã dành gần 20 năm cuộc đời để giữ một thứ đang dần lùi vào ký ức: tuồng cổ.

Chị Như Ngọc - 40 tuổi, quê ở vùng nắng gió Phan Rang. Tuồng đến với chị không phải là lựa chọn, mà như một dòng chảy đang có sẵn trong huyết quản. “Lúc nhỏ, tôi đam mê tuồng nhưng đâu có nghĩ là sẽ theo tuồng lâu như vậy. Hồi đó, đi bắt ốc ngoài biển, tôi lấy mấy cái thúng, cái rổ dựng lên làm sân khấu, rồi tự vào vai, tự hát. Không có ánh đèn, không có khán giả, chỉ có tiếng sóng và một đứa trẻ say mê những câu hát cổ” - chị kể.

Chị Như Ngọc (bên phải) diễn vở tuồng cổ Ngũ Sắc Châu tại đình Trường Đông trong đêm lễ hội Cầu Ngư
Chị Như Ngọc (bên phải) diễn vở tuồng cổ Ngũ Sắc Châu tại đình Trường Đông trong đêm lễ hội Cầu Ngư

Đam mê lớn dần theo năm tháng. Năm 12 tuổi, chị lần đầu bước lên sân khấu, vào vai Tiết Kim Liên - em gái Tiết Đinh San. “Vai đầu đời để lại trong tôi ký ức sâu sắc, niềm đam mê với nghề một lớn, từ khoảnh khắc ấy tôi biết mình muốn gì, tôi muốn cống hiến và sống hết mình với nghề này”.

Nhiều năm sau, cô bé ngày nào đã trở thành đào chánh, giữ vị trí trung tâm trong gánh tuồng. Đó không chỉ là vai diễn, mà là trách nhiệm giữ nhịp cho cả vở diễn, giữ hồn cho từng lớp tuồng. Hiện chị thuộc đoàn nghệ thuật tuồng cổ Phước Bình (xã Diên Điền) - một gánh tuồng không quá lớn nhưng bền bỉ tồn tại qua năm tháng.

“Lên sâu khấu mình phải là nhân vật, không còn là mình nữa” - câu nói ấy tưởng đơn giản nhưng là cả một quá trình rèn luyện. Tuồng không chỉ là lời ca, mà là ánh mắt, thần thái, là từng động tác nhỏ. Chị Ngọc đặc biệt nhắc đến đôi mắt. Sau khi hóa trang, ai cũng khác đi. Nhưng ánh mắt là thứ người ta nhận ra. Mắt phải thể hiện được nhân vật. Có lẽ vì thế, khán giả ở đình Trường Đông vẫn nhớ chị qua từng vai diễn. Không chỉ vì giọng hát, mà vì ánh nhìn - khi thì kiêu hãnh, khi thì bi thương, khi lại rực cháy như lửa. Rời sân khấu, chị trở lại với vai người vợ, người mẹ.

Chị lấy chồng và theo chồng về sinh sống ở Nha Trang. Chồng chị cũng là một người trong nghề. Chồng đàn, vợ hát - một sự kết hợp quen thuộc trong gánh tuồng xưa. Nhưng đời sống không chỉ có nghệ thuật. “Sau khi diễn xong, tụi tui còn phải làm thêm” - chị bộc bạch. Công việc múa lửa trong đám tang giúp chị kiếm thêm thu thập. “Nhiều lúc khó khăn lắm chứ. Nhưng mình quen rồi. Không cách này thì tìm cách khác. Giữa những lo toan ấy, tuồng vẫn ở lại. Không phải vì thu nhập mà vì không nỡ buông” - chị Ngọc nói. Ông Lê Ngọc Đạt - Giám đốc đoàn nghệ thuật tuồng cổ Phước Bình - bảo: “Ngọc là người có nghề và có tâm. Không chỉ diễn tốt mà còn gắn kết được anh em trong đoàn. Phụ nữ như vậy rất quý”.

Trong lễ hội Cầu Ngư (thường diễn ra vào tháng Hai, tháng Ba âm lịch ở tỉnh Khánh Hòa), tuồng không chỉ là tiết mục văn nghệ mà là một phần của nghi lễ. Năm nay, đoàn của chị Ngọc biểu diễn các vở Tiêu Anh Phụng, Ngũ Sắc Châu - những tích tuồng quen thuộc, gắn với đạo lý và tín ngưỡng dân gian. “Diễn trong lễ Cầu Ngư khác lắm, mình phải giữ sự trang nghiêm. Năm nay đình cũng khang trang hơn, đầu tư hơn, đặc biệt là kết hợp cùng lễ hội lớn của làng. Chính vì vậy, từng động tác, từng câu hát đều phải chỉn chu”.

Ông Phạm Như Ý - Thư ký Ban Quản lý di tích lịch sử văn hóa đình Trường Đông - cho biết, tuồng là phần không thể thiếu trong lễ hội. Nó giúp gìn giữ bản sắc văn hóa của làng biển. Đêm diễn ở đình Trường Đông, khán giả không quá đông nhưng đủ để tạo nên một không gian ấm cúng.

Bà Lê Thị Kim Trang - một khán giả lớn tuổi - nói: “Tui coi tuồng từ hồi còn nhỏ. Giờ vẫn còn được coi là mừng rồi”. Em Nguyễn Ngọc Tường San cho hay: “Xem tuồng, lúc đầu em thấy lạ nhưng sau lại thấy hay. Cô Ngọc diễn ánh mắt rất mạnh”. Như vậy là giữa 2 thế hệ, tuồng vẫn còn sợi dây kết nối, dù mong manh.

Nỗi lo phía sau ánh đèn

Ánh đèn sân khấu luôn rực rỡ. Nhưng phía sau nó là những khoảng tối mà không phải khán giả nào cũng nhìn thấy. Với chị Nguyễn Như Ngọc, nỗi lo không nằm ở một vai diễn khó hay chuyện cơm áo, mà lớn hơn, âm thầm hơn, nỗi lo là tương lai của tuồng. Sự mai một của tuồng, với chị không đến từ một biến cố lớn, mà đến từ những thay đổi rất nhỏ, đến mức đôi khi người trong cuộc cũng không nhận ra.

“Ngày xưa, mỗi lần diễn là cả xóm kéo ra coi. Giờ thì vẫn có người xem nhưng không còn cái không khí như trước” - chị nói. Ở Nha Trang, những đêm tuồng trong lễ hội Cầu Ngư vẫn còn giữ được phần nào dáng dấp nhưng nhìn kỹ sẽ thấy được sự thay đổi lặng lẽ: khán giả thưa hơn, người trẻ đứng lại ít hơn và những gương mặt quen thuộc ngày càng vắng dần.

Tuồng vốn là một loại hình nghệ thuật “truyền miệng”, không chỉ là lời ca mà là cách nhấn nhá, ánh mắt, động tác, nhịp tay. Những thứ ấy không thể ghi chép trọn vẹn mà chỉ có thể được truyền từ người này sang người khác. Chị Ngọc lo chuỗi truyền ấy đang mỏng manh dần: “Có những vai diễn, mình học từ người đi trước. Nhưng giờ nhiều người không còn nữa. Một ngày nào đó, nếu không còn người nhớ thì những vai diễn ấy sẽ biến mất - không phải bị quên, mà vì không còn ai đủ khả năng để tái hiện đúng tinh thần của nó”.

Phụ nữ ven biển Khánh Hòa yêu thích xem hát tuồng trong các dịp lễ hội
Phụ nữ ven biển Khánh Hòa yêu thích xem hát tuồng trong các dịp lễ hội

Theo chị Ngọc, không phải người trẻ không quan tâm đến tuồng, nhưng để gắn bó lâu dài lại là chuyện khác. “Khoảng cách thế hệ” không nằm ở sở thích mà còn ở nhịp sống. Tuồng chậm rãi, ước lệ, nhiều tầng nghĩa, cần thời gian để cảm nhận, trong khi thế giới bên ngoài đang ngày càng nhanh, ngắn, trực tiếp và dễ tiếp cận. Có lẽ vì thế tuồng trở nên lạc nhịp trong đời sống hôm nay. Sự khác biệt ấy khiến việc truyền nghề trở nên khó khăn hơn bao giờ hết. Không phải vì thiếu người học mà vì thiếu người đủ kiên nhẫn đi đến cùng.

Và trong bối cảnh ấy, có cách nào để giữ lại tuồng?

Theo chị Ngọc, giữ tuồng không có nghĩa là giữ nguyên mà phải thay đổi. Cái khó là làm sao để sau những thay đổi ấy người ta vẫn nhận ra đó là tuồng. Bởi tuồng không chỉ nằm ở lớp áo mão, lời ca, mà ở cái “thần” rất khó gọi tên - thứ chỉ có thể cảm nhận khi người diễn thực sự sống với nhân vật. Nếu đánh mất nó thì dù sân khấu vẫn còn, tuồng cũng chỉ còn lại cái vỏ. Giữa ranh giới mong manh ấy, những người như chị chọn cách giữ nghề bằng những việc rất nhỏ. Một buổi tập cho đám trẻ trong xóm, một lần giải thích cho người xem hiểu thêm về tích tuồng, hay đơn giản là diễn trọn vẹn vai diễn trong đêm hội. Chị kể, có lần diễn xong, một đứa nhỏ chạy lại hỏi vì sao nhân vật lại nhìn như vậy, lại khóc như vậy. Chỉ một câu hỏi thôi nhưng khiến chị vui rất lâu. Bởi khi còn có người hỏi là tuồng vẫn còn chạm được đến ai đó.

Ở Nha Trang, tuồng hôm nay vẫn hiện diện trong lễ hội Cầu Ngư, như một phần ký ức chưa tắt của làng biển. Nhưng để đi xa hơn những đêm hội, có lẽ tuồng cần được nhìn lại, được kể lại, được hiểu lại không phải như một thứ cũ kỹ, mà như một phần sống của văn hóa. Còn với chị Ngọc, cách giữ tuồng của chị không nằm ở những tuyên ngôn mà chỉ lặng lẽ làm điều mình đã làm suốt gần 20 năm qua: bước lên sân khấu khi đến lượt, hóa thân trọn vẹn vào nhân vật. Bởi chị hiểu, văn hóa không mất đi ngay lập tức, mà vì không còn ai đủ kiên nhẫn để giữ nó lại. Chừng nào vẫn còn những người như chị, lặng lẽ đứng trên sân khấu ở đình Trường Đông, thì chừng đó, tuồng vẫn còn một nơi để tồn tại, dù mong manh.

Trần Hằng

 

news_is_not_ads=
TIN MỚI