Những người giữ ký ức

29/04/2026 - 06:00

PNO - “Bà nhớ ông không?” - vài lần tôi hỏi bà như thế. Mỗi bận như vậy, bà nhìn ra khoảng sân rất lâu rồi thở dài nghe nhẹ như gió.

Từ trái sang: Mẹ và dì Út của tác giả  - Ảnh do nhân vật cung cấp
Từ trái sang: Mẹ và dì Út của tác giả - Ảnh do nhân vật cung cấp

Trong ngôi nhà của ngoại, ông tôi - liệt sĩ Nhan Văn Khị - hiện diện bằng một khoảng trống thênh thang. Khoảng trống ấy rõ ràng đến mức dù chưa từng gặp, tôi vẫn cảm nhận được rằng từng có một người đàn ông sống ở đây, từng bước qua sân nhà này, từng ngồi bên hiên, từng thuộc về những mùa lúa và những bữa cơm gia đình… rồi một ngày rời đi mãi mãi ở tuổi 38.

Đến ngày giỗ ông, bà tôi lại dậy từ sớm. Bà vo gạo, nấu xôi, luộc gà, bày mâm cơm gọn gàng. Bà đặt mâm cơm ra trước sân, chỗ có khoảng trời rộng nhất trong nhà, rồi thắp nén hương. Bà bảo: “Để ông và đồng đội ông về ăn cho ấm cúng”.

Tôi lớn lên trong những buổi chiều nhang khói bà thắp cho ông. Khói hương bay lên chậm rãi, mỏng như một dải ký ức không tan. Tiếng bà gọi khẽ, như thể nói với người còn sống: “Ông về phù độ cho con cháu trong gia đình”. Và tôi, khi còn nhỏ, từng nghĩ ông chỉ đi đâu đó thật xa, rồi sẽ có ngày trở về. Nhưng rồi thời gian dạy tôi hiểu rằng có những cuộc trở về chỉ còn trong tưởng tượng của người ở lại mà thôi.

Khi đất nước thống nhất, bà tôi một mình nuôi 4 người con gái. Nhà không còn đàn ông đồng nghĩa không còn người gánh vác việc nặng nề. Chỉ còn bà và những mùa vụ nối nhau.

Ruộng đồng không đợi ai đau buồn. Mùa lúa vẫn chín, vẫn gặt, vẫn phơi. Và trời xanh vẫn vàng nắng… Những ngày giáp hạt vẫn đến đều đều. Bà tôi đi qua tất cả bằng đôi vai gầy và sự im lặng bền bỉ. Bà không có thời gian để ngồi xuống mà than thở. Có lẽ vì vậy mà nỗi buồn cũng không có chỗ để lớn lên.

“Bà nhớ ông không?” - vài lần tôi hỏi bà như thế. Mỗi bận như vậy, bà nhìn ra khoảng sân rất lâu rồi thở dài nghe nhẹ như gió. Tôi nghe như trong tiếng thở dài ấy có lời thủ thỉ của bà, rằng nhớ chứ nhưng nhớ để mà sống tiếp.

Lớn lên tôi mới hiểu có những nỗi nhớ không làm người ta yếu đi. Nó làm người ta đứng thẳng hơn, như thể nếu buông ký ức đó ra thì chính mình cũng không còn lý do để tồn tại tiếp.

Trong nhà tôi còn có dì Út. Dì không lấy chồng. Người ngoài từng hỏi vì sao, dì chỉ cười. Nhưng trong gia đình, ai cũng hiểu có những sự lựa chọn không cần nói thành lời.

Dì Út ở lại chăm sóc bà, chăm sóc căn nhà, chăm sóc những ngày giỗ chạp, chăm sóc người chị bị mù lòa vì ảnh hưởng của chất độc da cam/dioxin. Dì chăm sóc cả phần ký ức đã rơi rụng theo những người anh, người chị và những người thân khác đã hy sinh trong chiến tranh. Dì như nhịp cầu nối lại những đoạn đời bị cắt đứt.

Có những buổi trưa, tôi thấy dì ngồi ở sau nhà. Dì không làm gì, chỉ nhìn ra vườn. Ánh mắt dì không buồn rõ rệt nhưng có một sự xa xăm khó gọi tên. Tôi từng nghĩ, có lẽ trong những khoảnh khắc đó, dì đang sống lại một phần cuộc đời không thuộc về mình hoặc một phần cuộc đời lẽ ra đã khác nếu chiến tranh không đi qua.

Tôi nhận ra bà tôi và dì Út không phải là những trường hợp riêng lẻ. Họ là hình ảnh của rất nhiều người phụ nữ Việt Nam. Những người vợ liệt sĩ, những người con gái ở vậy, những người mẹ thay chồng nuôi con, thay cả phần đời còn dang dở của người đã mất. Họ không nói nhiều về sự hy sinh nhưng chính họ là sự hy sinh sống động nhất.

Bà tôi vẫn giữ thói quen cúng cơm ngoài sân mỗi dịp giỗ ông. Dì Út vẫn lặng lẽ chăm sóc mẹ già. Tôi viết về họ không phải để ca ngợi mà để ghi lại một điều giản dị: phía sau những tên tuổi được khắc trên bia đá là những phụ nữ vẫn đang âm thầm sống tiếp.

Và tôi hiểu, nói về ông tôi không chỉ là nhắc đến một người đã hy sinh mà còn là nhắc đến những phụ nữ đã ở lại, mang cả phần đời về sau để giữ cho ký ức ấy không biến mất.

Cao Minh Tèo

 

news_is_not_ads=
TIN MỚI