Thay vì chỉ bám víu vào đánh bắt và chế biến thô, các làng nghề sẽ bắt tay với ngành du lịch, phát triển các sản phẩm trải nghiệm. Giải pháp này được kỳ vọng là “chìa khóa” giải quyết bài toán sinh kế bền vững, đồng thời tạo sức bật mới để vực dậy nền kinh tế biển của khu vực.
Nhịp sống ở các làng chài
Sáng sớm, khi trời còn chưa tỏ, ngư dân vùng ven biển xã Phước Hải đã lục tục ra khơi. Nhìn từ bờ, khi những chiếc thuyền thúng chỉ còn như những chấm nhỏ, thì ngày mới thực sự bắt đầu. Trên bãi cát, tiếng sóng vỗ và tiếng trẻ thơ nô đùa…
8g30 sáng, mặt trời lên lưng chừng ngọn cây, thì những chuyến thuyền thúng đầu tiên cập bờ. Các cô, các chị làng chài chạy nhanh về phía biển để phụ chồng con kéo thuyền lên. Khoác chiếc áo phong phanh, đầu đội nón lá, chị Trần Thị Sen nhặt nhạnh từng con cá, con tôm, ghẹ, mực vướng vào lưới. Chị Sen kể, chị lớn lên từ làng chài, đã gắn bó hơn nửa đời mình với biển. Chồng đi làm nghề biển, chị coi biển là nồi cơm, là máu thịt cuộc đời. “Dù có lúc sóng gió, chúng tôi phải chứng kiến biết bao sự mất mát. Nhưng cuối cùng biển vẫn cho chúng tôi một đời gắn bó, cho cái ăn, cái mặc, cho một cuộc sống mặn mòi” - chị Sen nói.
 |
| Phụ nữ làng chài Phước Hải cùng chồng bám biển mưu sinh |
Cũng như chị Sen, hàng trăm chị em ở làng chài Long Hải, Long Điền cũng bắt đầu ngày mới từ sáng sớm tinh mơ, phụ chồng đẩy thuyền ra khơi, đón thuyền về rồi nhặt nhạnh, phân loại từng con tôm, con cá, đưa ra chợ bán. Buổi chiều, bên những chiếc lưới rách cũ, họ lại cặm cụi khâu vá. Hầu hết họ sinh ra và cùng chồng bám biển mưu sinh. “Phụ nữ làng chài như chúng tôi quanh quẩn bên biển bạc với tôm, cua, cá, mực mà đôi khi quên cả phấn son, chỉ còn vẻ mặn mòi của biển” - chị Trần Thoa (xã Long Điền) nói.
Theo lãnh đạo xã Long Điền, với gần 70% dân số sống bằng nghề đánh bắt và chế biến hải sản, xã Long Điền phát triển mạnh nghề đánh bắt gần và xa bờ cùng các dịch vụ nghề cá. Nghề đan lưới truyền thống cũng có từ lâu. Ở đây, người ta vẫn thường ví: đàn ông là “kình ngư” ngoài biển, còn phụ nữ là “nghệ nhân” nơi bờ hậu phương. Từ bao đời nay, khi thuyền nhổ neo, làng chài lại bước vào một nhịp sống khác - lặng lẽ nhưng không kém phần tất bật bên những mắt lưới.
Trong những con hẻm nhỏ của các làng chài ở Vũng Tàu, Bình Châu, Long Hải, chúng ta dễ bắt gặp hình ảnh các bà, các chị ngồi quây quần bên những tấm lưới rộng dài cả chục mét để vá từng mắt lưới. Họ vừa làm, vừa trò chuyện rôm rả, thỉnh thoảng lại bật cười giòn tan. Tiếng cười giúp công việc trở nên nhẹ nhõm.
Không chỉ cần mẫn, tận tụy với những công việc trên bờ, ở làng chài Bình Châu, rất nhiều phụ nữ cũng lên thuyền đi biển. Bà Giang Thị Ngọc, đã ngoài 50 tuổi nhưng vẫn phăm phăm ra biển câu mực, lưới cá. Sinh ra ở biển, cha mẹ làm nghề biển, cuộc đời bà Ngọc là những ngày ngồi trước mũi thuyền phụ cha kéo lưới, giăng câu. Sau này bà lại lấy chồng nghề biển, nên mọi thứ liên quan đến nghề bà biết rõ.
Tờ mờ sáng, tiếng máy xình xịch từ xa vọng về báo hiệu đoàn thuyền đang trở về. Từng khay cá đầy ắp được chuyển lên bờ cùng tiếng kẻ mua người bán nhộn nhịp cả không gian. Ở một góc cảng, các nữ ngư dân lỉnh kỉnh với tay câu, tay lưới, mồi câu, cùng bữa ăn trưa. Những dáng người nhỏ nhắn với gương mặt khắc khổ của phận đời “ăn sóng, nói gió” nhưng vẫn toát lên vẻ đẹp mặn mà.
Tạo sinh kế bền vững cho phụ nữ ven biển
Ở các làng chài ven biển Lộc An, Phước Hải, chị em phụ nữ tham gia làm rất nhiều công việc liên quan đến nghề cá như đánh bắt cá, xẻ cá, bán cá, sơ chế cá… Tại những khu sơ chế cá khô ở làng cá Phước Hải, dưới nắng chang chang, hàng chục chị em vẫn cặm cụi phơi từng con cá trên liếp thưa. Chị Lùn - người có gần 20 năm gắn bó với công việc xẻ cá - cho biết, rất nhiều loại cá có thể làm cá khô, nhưng cá đù là loại phổ biến nhất ở Phước Hải. “Sau khi phơi 2 nắng, cá đạt độ khô tiêu chuẩn, sẽ được bán cho thương lái hoặc đóng gói theo đơn đặt hàng cho khách. Hải sản khô dễ bảo quản, chế biến nhanh, phù hợp với nhu cầu biếu tặng và sử dụng, nên xẻ cá, bán cá khô trở thành dịch vụ hậu cần nghề cá phổ biến của chị em phụ nữ ở các làng chài” - chị Lùn cho biết.
 |
| Đa số chị em phụ nữ ở làng chài làm nghề xẻ cá, bán khô |
Xã Phước Hải hiện có hơn 50 hộ làm cá khô, trong đó nhân công chiếm phần đông là chị em phụ nữ. Cơ sở của bà Nguyễn Thị Bích Vân với 1.800m2, là nơi sản xuất cá khô lớn nhất ở Phước Hải. Mỗi ngày, cơ sở này phơi hơn 3 tấn cá đù, đuối, ó để cho ra khoảng 1,5 tấn cá khô. Cá được bà Vân thu mua từ những người đi biển, chủ yếu là cá đù, với giá 20.000-50.000 đồng mỗi kg, tùy loại. Cá thu mua về được cho vào máy đánh vảy, rồi rửa sạch bằng nước biển, để ráo nước trước khi ướp gia vị, rồi mang đi phơi. “Để sản phẩm ngon, dai và không bị mốc, cá tuyệt đối không rửa bằng nước ngọt khi chế biến. Cá được phơi trên liếp từ 2-4 ngày (trời nắng). Nếu trời mưa, thời gian phơi lâu hơn, nhiều khi phải đưa cá vào lò sấy” - bà Vân cho biết.
Cùng với nhiều công đoạn sơ chế và chế biến hải sản như lột ghẹ, lột tôm, làm ruốc, công việc phơi cá đã góp phần đáng kể vào giải quyết việc làm và thu nhập ổn định cho hàng trăm lao động nữ tại các địa phương ven biển. Bà Nguyễn Thị Năm - nhân công làm cá khô - cho biết, mức thu nhập phụ thuộc vào công việc và năng suất làm việc, nhưng mỗi ngày cũng kiếm được khoảng 200.000-400.000 đồng.
Theo bà Bích Vân, phải mất 2-3 tấn cá tươi mới cho ra 1 tấn cá khô. Cá khô Phước Hải đã nổi tiếng nhiều năm qua, được bán cho người dân, du khách từ khắp nơi như Lâm Đồng, Đồng Nai, TPHCM. Ngày nay nhiều chị em biết live stream bán hàng qua mạng xã hội, nên cá khô còn được khách hàng các tỉnh thành phía Bắc đặt mua. Bà Võ Thị Thừa (phường Vũng Tàu) cho biết, hiện nay, đầu ra của sản phẩm khô đã ổn định và nhiều lúc sản phẩm làm ra không đủ bán vì nhu cầu tiêu thụ lớn.
Nhằm giữ gìn và phát triển ngành nghề truyền thống theo hướng bền vững, các xã, phường ven biển TPHCM đang quy hoạch tổng thể các làng nghề, đầu tư xây dựng hạ tầng và hệ thống xử lý nước thải tập trung; kiến nghị cấp thẩm quyền đầu tư ứng dụng công nghệ, trang bị máy móc thiết bị vào một số khâu chế biến, bảo quản và đóng gói sản phẩm nhằm đảm bảo an toàn, nâng cao chất lượng sản phẩm. Và theo kiến nghị, rất cần có những dự án đầu tư vào làng nghề nhằm giúp các chủ cơ sở sản xuất, hộ gia đình, chị em phụ nữ có điều kiện được vay vốn ưu đãi, có cơ hội tiếp cận công nghệ chế biến hiện đại, nhằm tạo thêm việc làm, nâng cao thu nhập.
Ông Vũ Ngọc Quý - chuyên gia nghiên cứu về môi trường và kinh tế biển - cho biết, sau sáp nhập, TPHCM có một hệ sinh thái làng nghề ven biển rất đa dạng. Việc quy hoạch và vực dậy các làng nghề ven biển không chỉ là bài toán phát triển kinh tế mà còn là sứ mệnh bảo tồn văn hóa và hệ sinh thái ngập mặn. Phát triển làng nghề gắn với du lịch là hướng đi bền vững TPHCM cần hướng đến.
“Tôi nói phát triển du lịch không phải là rầm rộ xây các khu nhân tạo ven biển mà là biến chính không gian làm muối, đan lưới, hay phơi khô thành một bảo tàng mở. Du khách sẽ trả tiền để được tham gia quy trình lao động thực tế cùng diêm dân, ngư dân. Cùng với đó, cần nâng cấp các đặc sản truyền thống (muối, nước mắm, hải sản khô) lên chuẩn OCOP. Đầu tư mạnh vào thiết kế bao bì mang đậm câu chuyện lịch sử về sự giao thoa văn hóa giữa Sài Gòn - Gia Định và vùng Bà Rịa cũ” - ông Vũ Ngọc Qúy chia sẻ.
Cũng theo ông Vũ Ngọc Quý, đặc thù của các làng nghề ven biển là lực lượng lao động nòng cốt đa số là phụ nữ. Họ chính là những người nắm giữ bí quyết tay nghề và truyền lửa cho thế hệ sau. Để tạo sinh kế bền vững cho lực lượng này, cần có các chính sách tín dụng ưu đãi, đồng thời mở các lớp đào tạo thương mại điện tử, giúp chị em tự chủ kinh tế, trực tiếp quảng bá và bán sản phẩm của làng nghề trên các nền tảng số.
Tùng Lâm