Giữ nguồn gen Việt từ những “bí mật trong rừng”

22/06/2026 - 06:03

PNO - Đối với chị Lý, khoảnh khắc nhận được phản hồi từ ngân hàng gen thế giới có ý nghĩa như một cột mốc chủ quyền khoa học.

Năm 1979, ông ngoại của chị Phạm Thị Lý - Chủ tịch Hội đồng sáng lập, Giám đốc Trung tâm Doanh nghiệp hội nhập và phát triển (IDE) - di tản từ miền núi về Hà Nội. Trong rất ít đồ đạc ông mang theo, có một bọc cây nhỏ. Trước khi giao lại cho con rể (cha chị Lý), ông dặn: “Người dân tộc thiểu số ở trên đó rất quý cây này. Nếu nó sống được ở Hà Nội thì tốt”.

Cây đó sống. Nhưng mấy chục năm sau, nó vẫn chỉ là một khóm còi cọc trong góc vườn, không ai để ý. Cho đến khi tình cờ nghe câu chuyện về sâm Ngọc Linh, chị Lý chợt nhớ lời dặn của ông. Chị tự nhủ: “Mình không biết cây này quý đến mức nào nhưng ông đã dặn như thế thì mình nên tìm hiểu”. Sau nhiều năm, chị thấy loại cây đó có một số đặc điểm khiến nó gần như vắng bóng trong tự nhiên: chỉ có 1 thân, 1 củ, nhổ lên là hết; hạt khó nảy mầm; quả rụng xuống thì không mọc cây mới. Chị đặt cho cây cái tên “nhất dương sinh”.
Theo chị, đây là một loài dược liệu bản địa quý hiếm, hiện đã được cấp bằng bảo hộ giống cây trồng. Cây có tốc độ sinh trưởng chậm, khả năng tái sinh tự nhiên thấp nên nguy cơ suy giảm nguồn gen rất lớn nếu không được bảo tồn và nhân giống bài bản. Năm 2015, chị đi tìm lại dấu vết của cây trong tự nhiên qua những người đi rừng, người làm lâm nghiệp. Tìm được rồi, chị đi tìm lời giải cho câu hỏi “làm thế nào để giữ”.
Khi tìm đến giáo sư Phạm Thị Trân Châu - bấy giờ là Chủ tịch Hội Nữ trí thức Việt Nam, là nhà khoa học có nhiều năm nghiên cứu về dược liệu - chị nhận được lời khuyên: trước khi mang mẫu cây đi phân tích, hãy băm nhỏ lá, cắt vụn thân, chia nhỏ củ thành nhiều gói riêng lẻ để không ai nhìn thấy hình dáng nguyên vẹn của cây. Khi đó, chị Lý chưa thực sự hiểu rằng, đó là kinh nghiệm của người đã chứng kiến tài nguyên dược liệu của Việt Nam bị những đơn vị nước ngoài thu mua, sao chép và công bố trước khi trong nước kịp làm gì. Nghe khuyên, chị Lý làm đúng như vậy: mang mẫu cây đến Viện Dược liệu (Bộ Y tế) ở dạng đã phơi khô, cắt nhỏ. Người tiếp nhận hỏi đi hỏi lại: “Cái gì mà thơm thế?”.

Từ đó, chị giao mỗi khâu nghiên cứu cho những nhóm riêng: nhóm giải trình tự gen, nhóm làm cây mô, nhóm phân tích hoạt chất, không nhóm nào biết thông tin công việc của nhau hay biết toàn bộ công trình. “Đó là cách mà nhóm nghiên cứu lựa chọn để hạn chế nguy cơ bị lộ thông tin ở giai đoạn đầu” - chị Lý kể. Kết quả quan trọng nhất đến từ một nhóm nhỏ do tiến sĩ Nguyễn Hữu Thanh chủ trì. Nhóm này giải trình tự hệ gen lục lạp của cây và gửi lên ngân hàng gen thế giới. Một thời gian sau, có tin hồi âm: hợp lệ, chưa có ai công bố trước.

Đối với chị Lý, khoảnh khắc nhận được phản hồi từ ngân hàng gen thế giới có ý nghĩa như một cột mốc chủ quyền khoa học. Lần đầu tiên, một bộ dữ liệu hệ gen lục lạp của loài cây này được ghi nhận cho tác giả là người Việt Nam, nghĩa là dữ liệu khoa học về loài cây này đã được xác lập trên một hệ thống quốc tế, tạo cơ sở cho việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và phát triển sản phẩm sau này.

Theo chị Phạm Thị Lý, nếu không chủ động xây dựng dữ liệu khoa học và xác lập quyền sở hữu trí tuệ từ sớm, các nguồn gen bản địa của Việt Nam có thể gặp bất lợi trong quá trình phát triển thương hiệu và thương mại hóa trên thị trường quốc tế. Chính bộ gen đó cùng với kết quả khảo nghiệm vùng trồng qua 2 mùa đã trở thành hồ sơ để Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) xét cấp bằng bảo hộ giống cây trồng.

Toàn bộ hành trình đó kéo dài gần 10 năm, với toàn bộ chi phí do chị Lý tự trả. Chị không tiết lộ con số cụ thể, chỉ nói: “Cái tính được là có hóa đơn. Cái không tính được là công sức, là cây chết, là những lần phải làm lại từ đầu”. Hiện chị duy trì vùng trồng hơn 10ha. Do cây sinh trưởng chậm và khả năng nhân giống hạn chế nên mỗi năm, đơn vị của chị chỉ tạo được vài ngàn cây giống từ hạt.

Gần 10 năm sau ngày bắt đầu hành trình đi tìm lời giải cho cây thuốc mà ông ngoại mang về từ núi, điều chị Lý chờ đợi nhất là có một công trình khoa học quốc tế ghi nhận đầy đủ nguồn gốc, dữ liệu và tác giả là người Việt. Theo chị, khi một nguồn gen được xác lập danh tính và quyền sở hữu, đó là cách giữ lại một phần tài sản trí tuệ của Việt Nam cho tương lai.

Hồng Thanh

 

news_is_not_ads=
TIN MỚI