Kiên định 3 trụ cột, tạo đột phá từ chuyển đổi số

Sử dụng vốn đầu tư công như vốn mồi để kích thích đầu tư tư nhân, khai thác tối đa sức mua từ thị trường nội địa hơn 100 triệu dân, đẩy mạnh và nâng cấp hoạt động xuất khẩu là 3 trụ cột cần được thực thi xuyên suốt.
Tuy nhiên, mỗi trụ cột đều có giới hạn và thách thức riêng. Thị trường xuất khẩu năm 2026 được dự báo sẽ tiếp tục đối mặt với khó khăn và có thể tăng trưởng chậm lại. Sau hơn 20 năm Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), cơ cấu xuất khẩu vẫn phụ thuộc vào một số thị trường chính, chưa đa dạng hóa được hàng hóa và thị trường, tỉ lệ nội địa hóa và giá trị gia tăng còn thấp.
Do đó, để phát huy trụ cột xuất khẩu, chính quyền TPHCM cần chủ động dẫn dắt việc chuyển dịch cơ cấu thị trường và ngành hàng, gắn chặt với tiến trình chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Mấu chốt nằm ở việc nâng cao tỉ lệ nội địa hóa thông qua chính sách phát triển mạnh mẽ ngành công nghiệp hỗ trợ, tạo ra mạng lưới doanh nghiệp (DN) nội địa bám sát và cùng phát triển với các DN có vốn đầu tư nước ngoài (FDI).
Chính quyền thành phố cần tiếp tục phát huy thế mạnh của dịch vụ tiêu dùng và du lịch. Du lịch cần được định vị và phát triển như một ngành công nghiệp toàn diện, vượt khỏi phạm vi lưu trú đơn thuần, nhằm gia tăng mức chi tiêu và trải nghiệm, qua đó kích thích sức mua tổng thể. Đối với đầu tư công, cần áp dụng triệt để nguyên tắc “chi phí cơ hội”. Mỗi đồng vốn từ ngân sách phải được ưu tiên cho các dự án hạ tầng then chốt. Tóm lại, 3 trụ cột truyền thống cần được tiếp sức bởi các động lực mới gồm chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, đổi mới sáng tạo và một nền thể chế được cải thiện.
Trong năm 2026, TPHCM phải được nhìn nhận như một đại công trường để hiện đại hóa đồng bộ 3 mảng hạ tầng gồm giao thông (metro, đường vành đai, cảng biển quốc tế), đô thị (các khu đô thị mới, trung tâm thể thao liên hợp), hạ tầng số (các trung tâm dữ liệu quy mô lớn, phủ sóng 5G). Việc chọn các khu vực như Cần Giờ, Củ Chi làm vùng đột phá là một hướng đi đúng. Yếu tố then chốt cho mọi chuyển đổi chính là nguồn nhân lực chất lượng cao. Với tiềm lực giáo dục - đào tạo hàng đầu cả nước, TPHCM có trách nhiệm và cơ hội để đi tiên phong trong đào tạo nguồn nhân lực số. Điều này đòi hỏi một sự đổi mới căn bản trong mô hình đào tạo, theo nguyên tắc 3 bên cùng tham gia, gồm nhà nước, nhà trường, DN. DN phải tham gia vào việc xây dựng chương trình giảng dạy và tạo môi trường thực hành.
Tiến sĩ Trần Du Lịch - Chủ tịch Hội đồng Tư vấn thực hiện Nghị quyết 98 của Quốc hội về thí điểm cơ chế, chính sách đặc thù phát triển TPHCM
Thực thi chính sách với tinh thần hỗ trợ

Các chỉ số kinh tế vĩ mô đang cho thấy những tín hiệu phấn khởi. Tuy nhiên, phạm vi tác động của các chính sách vẫn chưa thực sự rộng khắp. Chẳng hạn, chương trình hỗ trợ tín dụng thông qua Công ty Đầu tư tài chính nhà nước TPHCM (HFIC) mới chỉ tiếp cận được khoảng 11 DN với tổng vốn 270 tỉ đồng. Để tạo đòn bẩy thực sự, chương trình này phải hỗ trợ cho ít nhất 1.000 DN.
Dù Bộ Chính trị đã có một loạt nghị quyết quan trọng với các hỗ trợ cụ thể về lãi suất, tín dụng, mặt bằng, đào tạo và cải cách hành chính, nhiều DN vẫn khát vốn. Nguyên nhân là các ngân hàng quá thận trọng, còn những rào cản thủ tục, DN thiếu chuyên môn trong việc tiếp cận chính sách. Chính quyền thành phố đang đưa dịch vụ đến gần dân và DN hơn thông qua trung tâm hành chính công ở 168 phường, xã, đặc khu, nhưng công cụ vận hành cụ thể cho các trung tâm này vẫn cần được hoàn thiện. Quốc hội đã ban hành Nghị quyết 260/2025/QH15 sửa đổi Nghị quyết 98/2023/QH15, trao quyền chủ động lớn hơn cho chính quyền TPHCM trong quy hoạch, ban hành chính sách và phân bổ nguồn lực. Hy vọng năm 2026, nghị quyết này sẽ phát huy hiệu lực.
Hiện tại, DN vẫn gặp khó khăn về vốn, đơn hàng và đầu ra cho sản phẩm. Do đó, cần có giải pháp đồng bộ gồm đa dạng hóa thị trường, tập trung vào sản phẩm có giá trị gia tăng cao, đẩy mạnh đào tạo nhân lực chất lượng, ứng dụng công nghệ số vào quản trị đô thị thông minh, logistics và thương mại điện tử. May mắn là 4 ngành công nghiệp trọng điểm (cơ khí - tự động hóa, điện - điện tử, hóa dầu - cao su - nhựa, chế biến thực phẩm) đã có dấu hiệu phục hồi khả quan. Tuy nhiên, không ít DN vẫn thiếu vốn lưu động và phụ thuộc quá mức vào một thị trường xuất khẩu duy nhất.
Để tháo gỡ các điểm nghẽn, chính quyền TPHCM cần tập trung giải quyết 3 vấn đề cốt lõi là hạ tầng, thể chế, nguồn nhân lực. Về hạ tầng, cần cải thiện tình trạng ô nhiễm, ùn tắc giao thông và chi phí logistics cao thông qua việc đẩy nhanh tiến độ các dự án trọng điểm như xây các tuyến metro, đường vành đai, cầu lớn. Về thể chế, cần chuyển trọng tâm từ ban hành chính sách sang hiện thực hóa chính sách một cách hiệu quả, nhân văn. Cần phát triển nguồn nhân lực có kỹ năng, chuyên môn cao, trách nhiệm và nhiệt huyết, đặc biệt là cho hoạt động chuyển đổi số và các ngành công nghiệp mũi nhọn.
Trước mắt, chính quyền thành phố cần thực thi nghiêm túc và linh hoạt các chính sách về tín dụng ưu đãi, thuế, phí, mặt bằng và đào tạo nhân lực. Đặc biệt, công tác thanh tra, kiểm tra cần tuân thủ nguyên tắc “mỗi năm/lần” với tinh thần chủ đạo là cảnh báo, hướng dẫn, hỗ trợ DN tuân thủ pháp luật chứ không phải “chờ DN sơ hở để xử phạt”. Việc xử phạt tự động, cứng nhắc đối với những sơ suất nhỏ (như chậm nộp thuế 1 ngày) là chưa thực sự thấu tình đạt lý, gây thêm áp lực cho DN vốn đang gặp nhiều khó khăn.
Tiến sĩ Trần Quang Thắng - Viện trưởng Viện Nghiên cứu kinh tế và quản lý TPHCM
Doanh nghiệp trông chờ sự cải cách hành chính mạnh mẽ

Một thực tế không thể phủ nhận là DN vẫn chưa thực sự hài lòng với thủ tục hành chính. Do đó, kỳ vọng lớn nhất của DN trong năm tới là thủ tục hành chính sẽ thực sự nhẹ nhàng, thuận lợi hơn.
Bên cạnh rào cản hành chính, DN trong nước (do người Việt làm chủ) còn đối mặt với những thách thức nội tại khi hội nhập. Phần lớn DN Việt Nam là nhỏ và vừa, là nhóm dễ bị tổn thương nhất. Trong khi DN FDI thường có “lá chắn” từ các cơ quan ngoại giao và hiệp hội mạnh thì nhiều DN nhỏ và vừa trong nước vẫn “đơn thương độc mã”, tự xoay xở, lợi thế cạnh tranh ngày càng bị thu hẹp. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết là cần hiện thực hóa Nghị quyết 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân bằng các chính sách hỗ trợ cụ thể, tập trung vào nhóm yếu thế này.
Quốc hội, Chính phủ đã xây dựng các kế hoạch hành động hỗ trợ DN tư nhân, nhưng khoảng cách giữa chính sách và thực tế vẫn là một bài toán nan giải. Điều mà DN cần lúc này là những hành động cụ thể, quyết liệt ở cấp thực thi. Sự thấu hiểu và thái độ phục vụ của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trực tiếp làm việc với DN đóng vai trò then chốt. Họ cần nhận thức rõ rằng, mục tiêu phát triển hiện nay là hướng đến kinh tế tư nhân và mọi thủ tục là nhằm hỗ trợ chứ không phải là rào cản.
Nhìn về tương lai, triển vọng ngành nghề có lẽ vẫn sẽ xoay quanh các lĩnh vực do DN FDI chi phối như điện tử, may mặc, da giày. Điều đáng suy ngẫm là lợi ích thực sự rót lại cho nền kinh tế Việt Nam từ các ngành này còn rất khiêm tốn bởi các DN này chủ yếu gia công. Vì vậy, vấn đề cốt lõi hiện nay không chỉ là thu hút FDI mà là xây dựng được một hệ thống chính sách và định hướng xuyên suốt, thông suốt từ trung ương đến địa phương nhằm tạo đà và hỗ trợ tối đa để DN Việt Nam, đặc biệt là DN nhỏ và vừa từng bước lớn mạnh, nâng cao giá trị và làm chủ chính chuỗi cung ứng của mình. Năm 2026 sẽ là một thước đo quan trọng cho quyết tâm cải cách này.
Ông Nguyễn Hữu Nam - Phó giám đốc Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI)
chi nhánh TPHCM
Thanh Hoa