Không thể giữ người giỏi bằng tư duy cũ

22/05/2026 - 06:24

PNO - Cuộc cạnh tranh nhân tài toàn cầu bước sang giai đoạn mới khi trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số và kinh tế tri thức làm thay đổi cấu trúc phát triển nhiều quốc gia. Việt Nam có cơ hội lớn từ dân số vàng và chuyển đổi số. Nhưng để giữ được người giỏi, không chỉ cần chính sách ưu đãi mà còn cần hệ sinh thái phát triển cho nhân tài.

Lợi thế dân số “vàng” nhưng đào tạo chưa theo kịp nhu cầu

“Chúng ta cần thị thực nhân tài và chính sách thu hút nguồn lực chất lượng cao phục vụ phát triển đất nước”, giáo sư, tiến sĩ Nguyễn Thị Thanh Mai - Giám đốc Đại học Quốc gia TPHCM - nhận định. Bà cho rằng việc thu hút nhân tài không nên nhìn nhận đơn thuần là chính sách nhập cư hay thủ tục hành chính, mà là công cụ chiến lược trong cạnh tranh quốc gia, là đòn bẩy kết nối tri thức toàn cầu.

Sinh viên Trường đại học Khoa học Sức khỏe (Đại học Quốc gia TPHCM) được học với chuyên gia nước ngoài theo chương trình thu hút giáo sư thỉnh giảng của Đại học Quốc gia TPHCM
Sinh viên Trường đại học Khoa học Sức khỏe (Đại học Quốc gia TPHCM) được học với chuyên gia nước ngoài theo chương trình thu hút giáo sư thỉnh giảng của Đại học Quốc gia TPHCM

Theo bà, xu hướng thế giới không chỉ dừng ở đào tạo nhân lực mà đã chuyển sang quản trị dòng chảy nhân tài, từ phát hiện, thu hút, dịch chuyển đến giữ chân và phát huy tài năng. Những quốc gia thành công không chỉ hút người giỏi bằng lương hay ưu đãi hành chính, mà bằng cả hệ sinh thái. Đó là môi trường học thuật cởi mở, cơ chế linh hoạt, cơ hội nghiên cứu, khởi nghiệp, thương mại hóa công nghệ và chất lượng sống.

Từ thực tế Việt Nam, nhiều chuyên gia cho rằng đất nước đang có lợi thế lớn về dân số vàng, thích ứng khá tốt với môi trường số. Tuy nhiên, lợi thế này vẫn chưa chuyển hóa thành năng lực cạnh tranh. Tiến sĩ Lê Thị Anh Đào - Học viện Chính trị khu vực II - dẫn số liệu của Ngân hàng Thế giới cho biết, chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam chỉ đạt 3,79/10 điểm, thấp hơn so với nhiều quốc gia châu Á.

Bà nêu ra nghịch lý quy mô đào tạo tăng nhanh nhưng chất lượng đầu ra chưa đáp ứng yêu cầu. Mỗi năm có khoảng 50.000 sinh viên công nghệ thông tin tốt nghiệp, chỉ khoảng 30% có thể làm việc ngay, phần lớn còn lại phải đào tạo lại để đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp. Khoảng cách giữa đào tạo và thị trường lao động là điểm nghẽn lớn.

Các chuyên gia cho rằng sự xuất hiện của trí tuệ nhân tạo đang buộc các quốc gia phải tái định nghĩa khái niệm nhân tài. Trong kỷ nguyên mới, người lao động không chỉ cần giỏi chuyên môn mà còn phải có khả năng thích ứng nhanh, học tập suốt đời và làm việc cùng công nghệ.

Tiến sĩ Lê Thị Mai Hoa - Phó vụ trưởng Vụ Giáo dục, Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương - nhận định, trong bối cảnh khoa học công nghệ phát triển nhanh, giáo dục đại học không thể tiếp tục đào tạo theo tư duy cũ mà phải chuyển mạnh sang đào tạo nhân lực chất lượng cao theo chuẩn quốc tế, chú trọng các ngành công nghệ chiến lược, đổi mới sáng tạo và khoa học cơ bản.

Phải thay đổi cách trọng dụng nhân tài

Phó giáo sư, tiến sĩ Nguyễn Thị Tuyết Mai - Học viện Chính trị khu vực II - cho rằng, Việt Nam cần chuyển từ tư duy “thu hút nhân tài” sang “xây dựng hệ sinh thái nhân tài”. Bởi, người giỏi không chỉ quan tâm đến thu nhập mà còn đặt nặng cơ hội phát triển, không gian sáng tạo và khả năng được trao quyền. Do đó, phải tạo được môi trường đổi mới sáng tạo đủ hấp dẫn, từ chính sách thị thực, điều kiện nghiên cứu đến khả năng kết nối quốc tế và thương mại hóa công nghệ.

Bà nhấn mạnh: “Nhiều chính sách hiện nay vẫn tiếp cận nhân tài theo hướng ngắn hạn, thiên về ưu đãi hoặc hỗ trợ riêng lẻ, trong khi điều người giỏi cần là môi trường phát triển bền vững. Điều này lý giải vì sao nhiều quốc gia không chỉ mở rộng chính sách thị thực nhân tài mà còn đầu tư rất mạnh cho đại học nghiên cứu, trung tâm đổi mới sáng tạo, quỹ nghiên cứu và hệ sinh thái công nghệ. Cuộc cạnh tranh nhân tài thực chất là cạnh tranh về năng lực kiến tạo môi trường sáng tạo”.

Theo nhiều chuyên gia, đây cũng là điểm yếu lớn của Việt Nam hiện nay. Không ít cơ chế thu hút nhân tài vẫn thiên về hỗ trợ ngắn hạn, trong khi môi trường nghiên cứu, khả năng kết nối quốc tế và cơ hội phát triển nghề nghiệp chưa đủ hấp dẫn để cạnh tranh với các trung tâm công nghệ lớn trong khu vực.

Từ kinh nghiệm quốc tế, tiến sĩ Cheong Wei Yang - Phó hiệu trưởng Trường đại học Quản lý Singapore (SMU) - cho biết, Singapore không cạnh tranh bằng chi phí lao động, mà bằng khả năng kết nối đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp trong cùng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Các trường đại học không chỉ làm nhiệm vụ đào tạo mà còn trở thành trung tâm nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và phát triển doanh nghiệp công nghệ cao.

Ông Phạm Thành Nhân - Phó giám đốc Sở Nội vụ TPHCM - đánh giá việc triển khai Nghị quyết 27/2023/NQ-HĐND về mức thu nhập chuyên gia, nhà khoa học, người có tài năng đặc biệt đối với lĩnh vực TPHCM có nhu cầu thu hút, bước đầu tạo cơ sở để thu hút chuyên gia nước ngoài và trí thức kiều bào. Song, thành phố vẫn còn nhiều vướng mắc về cơ chế tài chính, quy trình tuyển dụng và môi trường làm việc.

Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao hiện không còn là bài toán riêng của giáo dục mà là vấn đề thể chế tổng thể. Việt Nam cần hoàn thiện cơ chế liên kết giữa nhà nước - nhà trường - doanh nghiệp; xây dựng hệ thống thông tin thị trường lao động minh bạch; tạo hành lang pháp lý linh hoạt cho các mô hình đào tạo mới và ngành nghề mới trong nền kinh tế số.

Thu hút chất xám bằng thị thực nhân tài

Tiến sĩ Nguyễn Thị Bích Cần - Học viện Chính trị khu vực II - cho rằng, nhiều quốc gia hiện không xem visa đơn thuần là công cụ quản lý xuất nhập cảnh, mà đã biến nó thành “vũ khí cạnh tranh chiến lược” để thu hút chất xám toàn cầu. Singapore, Hàn Quốc hay Trung Quốc đều xây dựng các gói chính sách tổng thể dành cho chuyên gia quốc tế, từ thủ tục thị thực linh hoạt, điều kiện cư trú dài hạn đến môi trường nghiên cứu, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và cơ hội phát triển nghề nghiệp.

Nhóm nghiên cứu của Trường đại học Văn Lang lấy dẫn chứng về chính sách thu hút nhân tài của Trung Quốc. Bên cạnh các loại thị thực nhân tài đã tồn tại, từ năm 2025 nước này triển khai thị thực K - được xem là bước tiến mới trong cải cách chính sách nhập cư. Loại thị thực này hướng đến chuyên gia trẻ trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học (STEM), cho phép nhập cảnh và tìm kiếm cơ hội việc làm mà không yêu cầu bảo lãnh từ doanh nghiệp. Chính sách này còn đi kèm ưu đãi về thời hạn lưu trú, số lần nhập cảnh và khả năng tham gia các hoạt động nghiên cứu, khởi nghiệp…

Sinh viên Việt Nam ít tham gia nghiên cứu khoa học

Thạc sĩ Trầm Thảo Vy - Viện Khoa học Xã hội vùng Nam Bộ - nêu nghịch lý: Trong khi các cơ sở đào tạo không ngừng khuyến khích cán bộ, giảng viên và sinh viên tham gia nghiên cứu khoa học, thì phần lớn người học có xu hướng ưu tiên giá trị nghề nghiệp thực tiễn, chỉ muốn nhanh chóng tốt nghiệp và làm nghề. Có 2 nguyên nhân chính là vị trí chuyên gia nghiên cứu khoa học vừa ít ỏi lại có mức thu nhập không tương xứng; các cơ sở giáo dục đại học chưa hoàn thiện hệ sinh thái học thuật.

“Các trường hầu như chưa xác định được vai trò quan trọng của mình trong việc ươm mầm, phát triển đội ngũ nhân tài nghiên cứu nên chưa có lộ trình để thực hiện chức năng này. Nếu cơ sở giáo dục không đóng vai trò chủ đạo trong việc kiến tạo môi trường, thay đổi nhận thức và xây dựng cơ chế đãi ngộ phù hợp, nguy cơ đứt gãy đội ngũ chuyên gia khoa học trong tương lai là tất yếu” - bà nói.

Bà dẫn số liệu: Tại Mỹ, năm 2023 có khoảng 34% sinh viên tham gia nghiên cứu khoa học; tại Đức khoảng 30%; còn ở các đại học nghiên cứu hàng đầu như Đại học Thanh Hoa (Trung Quốc) hay Đại học Quốc gia Singapore, tỉ lệ này từ 45 - 55%.

Trong khi đó, tại Việt Nam, tỉ lệ sinh viên tham gia nghiên cứu khoa học thấp, như: Trường đại học Mở Hà Nội có khoảng 3% sinh viên chính quy tham gia nghiên cứu khoa học; Trường đại học Tây Nguyên có quy mô đào tạo là 7.530 sinh viên nhưng chỉ có khoảng 1,3% sinh viên tham gia nghiên cứu khoa học; Trường đại học Y Hà Nội chỉ có 1,82% sinh viên tham gia đầy đủ các giai đoạn nghiên cứu và khoảng 5,45% sinh viên đã từng tham gia một phần trong các giai đoạn nghiên cứu; Trường đại học Y Dược Cần Thơ là khoảng 6%...

Ở TPHCM, tỉ lệ này cao hơn, nhưng vẫn thua xa các nước: Đại học Quốc gia TPHCM khoảng 20%; Trường đại học Bách khoa (Đại học Quốc gia TPHCM) khoảng 25%; Trường đại học Khoa học tự nhiên (Đại học Quốc gia TPHCM) khoảng 22%; Trường đại học Tôn Đức Thắng khoảng 18%...

Nguyên nhân không chỉ đến từ hạn chế về cơ sở vật chất, kinh phí nghiên cứu, mà còn do môi trường học thuật chưa thực sự khuyến khích sinh viên tham gia nghiên cứu từ sớm. Chương trình đào tạo còn nặng lý thuyết, sự kết nối giữa nghiên cứu và doanh nghiệp chưa chặt chẽ.

Nguyễn Loan

 

news_is_not_ads=
TIN MỚI