Hiểu nước để chung sống hài hòa với nước
Dù đã đi nhiều nơi trên thế giới để khảo sát những dòng sông lớn nhưng khi nhắc đến những con sông ở miền Tây Nam Bộ, giáo sư Chung Hoàng Chương nghĩ ngay đến sông Tiền - dòng sông tuổi thơ nơi quê ngoại ông. Hơn nửa thế kỷ xa quê hương, khi trở về, ngắm nhìn dòng sông ấy, ông cảm nhận rõ sự thân thuộc và tình yêu đầy ắp trong lòng mình.
Giáo sư Chung Hoàng Chương cho biết cửa sông Cung Hầu có nền cát pha bùn và độ mặn phù hợp, là nơi sinh sống lý tưởng của nghêu. Người dân sử dụng ván gỗ có tay cầm lướt trên bùn để cào nghêu, gọi là “đi bo”. Còn ngược lên vùng Tứ giác Long Xuyên thì thấy phương thức “đi côn”, nghĩa là đi thuyền hoặc xuồng trên những kênh rạch chằng chịt, len lỏi vào các vườn cây, ruộng đồng…
Người nương tựa vào sông. Ở đâu có những dòng chảy, ở đó có làng mạc, vườn tược, sự sống được sinh sôi. “Hệ sinh thái đồng bằng sông Cửu Long như một cơ thể sống, trong đó dòng sông là các mạch máu, đất đai là xương thịt hình hài, cây trái sinh vật là diện mạo của cơ thể này” - phó giáo sư, tiến sĩ Lê Anh Tuấn ví von. Theo ông, khi xưa đồng bằng sông Cửu Long từng chìm dưới biển. Trải qua hàng ngàn năm phù sa bồi đắp đã hình thành nên vùng đồng bằng với hệ sinh thái là những loài cây giữ đất, giữ nước.
 |
| Ảnh: Huỳnh Mỹ Thuận |
Theo Chân Lạp phong thổ ký của Chu Đạt Quan, người xưa khai phá vùng đồng bằng sông Cửu Long trước nhất tựa vào thế đất (đất gò, đất giồng, đất thấp, ruộng cạn, ruộng sâu…) và thế nước, phải tận dụng được dòng nước và biết sống thuận theo tự nhiên khi nước lớn, nước ròng… Và văn hóa của những vùng đất đã được khởi sinh theo những dòng chảy, bắt đầu từ sinh kế.
Đời sống bà con miền sông nước gắn liền với xuồng ghe từ thời khai hoang mở cõi. Tất thảy mọi việc từ làm mướn làm thuê, làm ruộng làm nương đến đi chợ đi buôn, bắt ốc hái rau, mưu sinh mùa nước nổi… đều cần đến ghe xuồng. “Khách thương hồ” là cụm từ phổ biến nói về những người mưu sinh bằng xuồng ghe xuôi ngược khắp miền Tây.
Nghệ nhân Nguyễn Văn Bảy (còn gọi Bảy Tốt) - người giữ làng nghề đóng ghe Bà Đài ở Đồng Tháp - nói rằng ở mỗi vùng đất nơi có dòng sông chảy qua, người dân lại đóng ghe phù hợp với con nước: Cần Thơ có ghe bầu, Đồng Tháp có ghe tam bản, Long An xưa - vùng Đồng Tháp Mười lại chuộng xuồng ba lá, còn vùng Thất Sơn, An Giang là những chiếc xuồng cui, ghe cà dom… Phong tục tập quán, tín ngưỡng, nghi lễ từ văn hóa mưu sinh sông nước cũng vì thế mà hình thành. Những tim ghe, mắt ghe, ngày hạ thủy, phẩm vật cúng thủy thần… theo niềm tin dân gian đi vào đời sống, hiện diện cho đến hôm nay.
Giáo sư Chung Hoàng Chương nói rằng, hiểu nước để chung sống hài hòa với nước, từ đó mới có thể thích nghi, tồn tại trước những thách thức của biến đổi khí hậu và xâm nhập mặn. Canh tác thuận thiên trở thành mô hình thiết yếu, vừa là cách ứng xử phù hợp với tự nhiên vừa để phát huy giá trị từ thiên nhiên.
Tìm về ký ức văn hóa từ những dòng sông
Những dòng sông vẫn hiền hòa chảy và lặng lẽ kể chuyện trăm năm. Sông chảy đời sông nhưng chuyên chở phận người và lưu giữ vào sóng nước ký ức văn hóa, lịch sử của một thời khẩn hoang. Dưới đáy sông là cả kho tàng cổ vật lưu dấu những ký ức văn hóa về một thời của đất.
 |
| Ảnh: Nguyễn Vinh |
Trong Bảo tàng TPHCM có một góc trưng bày những hiện vật về một thời khẩn hoang Nam Bộ, với mô hình thuyền ghe, dừa nước, cá sấu, ngư cụ, sản vật… Những tháng cuối năm 2025, bảo tàng trưng bày thêm những cổ vật quý được trục vớt dưới lòng sông Sài Gòn: thuyền độc mộc; nông ngư cụ bằng chất liệu mây, tre; bình, lọ, chén, dĩa bằng chất liệu gốm… có niên đại từ thế kỷ XIII-XIX. Bảo tàng Đồng Nai hiện lưu giữ hàng trăm hiện vật được trục vớt từ lòng sông, trong đó phần lớn là đồ gốm của đồng bào Việt, Hoa, Chăm với niên đại tương ứng với sự phát triển của cù lao Phố. Ngoài ra còn có một mảnh tàu L’Esperancé bị đốt cháy trong trận đánh trên sông Nhật Tảo của anh hùng Nguyễn Trung Trực vào năm 1861.
Phó giáo sư, tiến sĩ Lê Anh Tuấn cho biết: “Không gian “trên bến dưới thuyền” mà chúng ta vẫn thường nhắc đến như một dấu ấn văn hóa miền sông nước chính là được hình thành qua dấu vết mưu sinh của cộng đồng dân cư theo những con nước ngày xưa”. Ngày nay, nhiều khu chợ nổi đã không còn nhưng dấu ấn sông nước vẫn còn lưu giữ trong nỗ lực tái hiện, gìn giữ những giá trị xưa và trong tâm thức bao người.
Cạnh những dòng sông, nhiều làng nghề đã ra đời: làng tơ lụa Tân Châu (An Giang), làng dệt chiếu (Cà Mau), làng nghề nước mắm (Phú Quốc), làng hoa Sa Đéc, làng đóng ghe thuyền (Đồng Tháp), nghề làm muối (Cà Mau)… Trên đường qua Mang Thít (Vĩnh Long), làng gốm hiện lên với những lò gạch cũ nổi bật. Không chỉ là câu chuyện của mưu sinh mà các làng nghề còn trở thành chỉ dấu văn hóa Nam Bộ, trở thành những không gian du lịch, giới thiệu sản vật và quảng bá giá trị văn hóa của địa phương đến với bè bạn quốc tế.
Sông nước còn bồi đắp nên tính cách của người dân vùng đất này: phóng khoáng, nghĩa hiệp, hào sảng, thâm tình, tứ hải giai huynh đệ… Cũng không có nơi nào mà hình ảnh sông nước in dấu sâu đậm trong ngôn ngữ như vùng đất của những dòng sông. Có nhiều từ nói về vùng đất ngập nước: xẻo, ao, đìa, hào, búng, láng, lung, hòn, doi, vịnh, cồn, cù lao… Cũng có nhiều từ miêu tả đặc điểm của dòng nước: nước lớn, nước ròng, nước rong, nước kém, nước nhảy, nước chụp, nước xiết, nước đứng, nước xuôi…
Mạch nguồn sông nước phương nam
Tiến sĩ Quách Thu Nguyệt cho rằng con người nương tựa vào sông để sống và nương tựa vào dòng nước để vươn mình. Dòng sông cũng được ví như đời người, cứ lặng lẽ chảy trôi, qua bao thác ghềnh, lúc lặng im lúc dữ dội. Nước mềm mại nhưng có thể đương đầu với sắt đá, nước nhẹ nhàng nhưng có thể vượt qua bao đỉnh cao vực sâu.
Dòng sông cũng là biểu tượng xuất hiện trong nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật, phản chiếu hình dung của đất, của những thân phận con người. Khởi đi từ ký ức tuổi thơ, dòng sông quê hương như một mạch nguồn chảy trong tâm khảm, như nhà thơ Tế Hanh đã viết: “Quê hương tôi có con sông xanh biếc/ Nước gương trong soi tóc những hàng tre/ Tâm hồn tôi là một buổi trưa hè/ Tỏa nắng xuống lòng sông lấp loáng…” (Nhớ con sông quê hương). Dẫu có đi qua bao thăng trầm thì dòng sông quê ấy vẫn như niềm nương tựa: “Qua nửa đời phiêu dạt/ Con lại về úp mặt vào sông quê/ Ơi con sông dạt dào như lòng mẹ/ Chở che con đi qua chớp bể mưa nguồn…” (Khúc hát sông quê, thơ: Lê Huy Mậu, nhạc: Nguyễn Trọng Tạo).
Bến nước là biểu tượng của làng quê Việt Nam và cũng là hình ảnh ẩn dụ của sự son sắt, thủy chung. Bến nước và dòng sông xuất hiện trong nhiều tác phẩm văn học trao gửi những câu chuyện về phận người: Đò dọc (Bình Nguyên Lộc), Đất rừng phương Nam (Đoàn Giỏi), Dòng sông thơ ấu (Nguyễn Quang Sáng), Tấm ván phóng dao (Mạc Can), Sóng nước Vàm Nao (Lê Văn Thảo), Sông (Nguyễn Ngọc Tư)… Vùng đất phương Nam xưa hiện lên trong những trang viết của nhà văn Sơn Nam: “Đó là nơi sầm uất, lau sậy mọc um tùm quanh mấy gốc bầu to lớn cỡ hai người ôm không xuể. Sớm thì chim kêu, chiều thì vượn hú, thỉnh thoảng có người bảo rằng giữa đêm khuya nghe tiếng cọp rống…”.
Dù là những ghi chép, khảo cứu hay sáng tác thì hình ảnh sông nước, ghe xuồng, kênh rạch luôn xuất hiện trong tác phẩm của các nhà văn Nam Bộ. Dòng sông chuyên chở những giá trị lịch sử, cội nguồn, văn hóa và vẻ đẹp của đời người ngược xuôi theo con nước ngọt thắm phù sa. Nương tựa vào sông, con người đã cùng nhau kiến tạo nên một vùng đất trù phú mang đậm bản sắc văn hóa đồng bằng Nam Bộ.
Bùi Tiểu Quyên