Năm Ngọ nói chuyện ngựa: Ngựa trong tâm thức đồng bào người Mông

16/02/2026 - 11:13

PNO - Những con đường nhựa lần lượt vươn tới tận bản, xe máy, ô tô thay nhau ngược dốc, xuôi đèo. Nhưng trong ký ức của nhiều người Mông ở miền Tây Nghệ An, ngựa từng là phương tiện di chuyển và vận chuyển hiệu quả nhất trong đời sống của họ.

Một phần ký ức khó quên

Bản Phà Xắc (xã Huồi Tụ, tỉnh Nghệ An) nằm cheo leo bên sườn núi. Nhớ lại quãng thời gian ngựa được xem là “đôi chân” của cả gia đình, ông Cự Giống Mùa (60 tuổi, trú bản Phà Xắc) cho biết: “Trước năm 1980, gia đình nào trong bản cũng nuôi ít nhất vài con ngựa. Thời đó làm gì có đường, có xe nên tất cả đều phụ thuộc vào ngựa”.

Với đồng bào người Mông ở Nghệ An, ngựa từng là phương tiện di chuyển và vận chuyển hiệu quả nhất trong đời sống
Với đồng bào người Mông ở Nghệ An, ngựa từng là phương tiện di chuyển và vận chuyển hiệu quả nhất trong đời sống

Theo ông Mùa, giống ngựa bản địa Kỳ Sơn nhỏ con nhưng dẻo dai, quen đường rừng, bám dốc tốt, gắn bó với đời sống người Mông từ bao đời. Các bản làng người Mông thường nằm ở vùng núi cao, địa hình dốc đứng, khí hậu khắc nghiệt nên ngựa từng là phương tiện di chuyển và vận chuyển hiệu quả nhất. Từ gùi ngô, sắn trên nương rẫy, đến những chuyến băng rừng xuống trung tâm huyện mua muối, mua thực phẩm… tất cả đều nhờ vào lưng ngựa.

Không chỉ là phương tiện di chuyển và lao động, ngựa còn hiện diện trong đời sống tinh thần. Những dịp lễ, tết… các bản làng người Mông ở dọc biên giới Việt - Lào lại rộn ràng trong những cuộc đua ngựa, tiếng hò reo hòa lẫn tiếng vó ngựa dồn dập trên sườn núi.

Ngày đó, mỗi con ngựa trưởng thành có giá bằng một nén bạc, một tài sản lớn của gia đình. Thế nhưng, dù quý giá đến vậy, người Mông ở vùng đất này hầu như không ăn thịt ngựa.

“Ngựa chết vì bệnh hay già yếu đều được chôn lấp, không ai giết thịt” - ông Mùa kể. Lý do thì không ai lý giải cặn kẽ, chỉ biết đó là tập quán được truyền từ đời này sang đời khác, như một sự trân trọng dành cho con vật đã cùng con người vượt qua bao gian khó.

Cũng như Huồi Tụ, ngựa từng là sợi dây kết nối người Mông ở xã Na Ngoi (tỉnh Nghệ An) với thế giới bên ngoài. “Ngày xưa đường sá hiểm trở, ngựa được nuôi nhiều lắm. Có ngựa mới đi ra ngoài, đi xa được” - ông Xồng Bá Lầu (trú xã Na Ngoi) nhớ lại.

Giống ngựa bản địa Kỳ Sơn nhỏ con nhưng được đánh giá dẻo dai, quen đường rừng
Giống ngựa bản địa Kỳ Sơn nhỏ con nhưng được đánh giá dẻo dai, quen đường rừng

Nhưng rồi đường mở, bản làng đổi thay. Những con dốc được thảm nhựa, xe máy thay thế ngựa thồ. Dần dà, hình ảnh con ngựa lặng lẽ gùi hàng qua rừng sâu chỉ còn lại trong ký ức. Theo ông Lầu, ngựa có ưu điểm cơ động, đi nhanh ở địa hình hiểm trở, nhưng sức kéo yếu hơn trâu bò, khó thuần. Khi giao thông thuận lợi, ngựa không còn “đất dụng võ”, người nuôi vì thế cũng thưa dần.

Nỗ lực bảo tồn giống ngựa quý

Là địa bàn sinh sống chủ yếu của đồng bào người Mông, xã Mường Lống (tỉnh Nghệ An) từng là cái nôi của nghề nuôi ngựa truyền thống. Giống ngựa Mường Lống thích nghi tốt với khí hậu lạnh, điều kiện tự nhiên vùng núi cao trên 1.300m so với mực nước biển, ít bệnh tật, phù hợp với hình thức chăn thả vật nuôi tự nhiên, bán hoang dã trên các sườn núi dốc của đồng bào người Mông.

Vuốt ve con ngựa bạch trị giá gần 100 triệu đồng, ông Và Bá Chư (58 tuổi, trú bản Trung Tâm, xã Mường Lống) - cho biết, nếu như trước đây ngựa bản địa được nuôi khá phổ biến thì đến nay, toàn xã chỉ còn 4 hộ duy trì với tổng đàn khoảng 30 con. “Ngày xưa mỗi bản cũng có vài trăm con, nhưng nay cả xã chỉ còn vài nhà nuôi ngựa nữa” - ông Chư nói.

Được cha truyền lại kinh nghiệm, ông Chư cho biết ngựa bản địa Mường Lống rất khỏe, tuổi thọ có thể tới 30 năm, mỗi năm sinh sản 1 lứa nếu chăm sóc tốt. Ngựa ít dịch bệnh, chỉ sợ nhất là trướng bụng, khi đó phải chữa bằng những kinh nghiệm dân gian như cho ăn mỡ heo chiên, uống bia để thông bụng.

Lo giống quý dần biến mất, ông Và Bá Chư nỗ lực nhân giống ngựa để bảo tồn và phục vụ du lịch ở địa phương
Ông Và Bá Chư nỗ lực nhân giống ngựa để bảo tồn và phục vụ du lịch ở địa phương

Lo giống ngựa quý dần biến mất, nhiều năm qua, ông Chư cùng con trai kiên trì nhân đàn. Đến nay, gia đình ông có 21 con ngựa. “Giá ngựa giờ cao, ngựa trưởng thành 35-40 triệu đồng, ngựa bạch có giá gấp đôi. Nhưng tôi chỉ bán khi thật sự bí, còn muốn giữ lại để nhân giống, phát triển đàn” - ông Chư chia sẻ.

Mường Lống được ví như “Đà Lạt thu nhỏ” của Nghệ An, là điểm đến hấp dẫn với sắc mận, sắc đào, những vườn hồng đỏ rực và lớp sương mù bảng lảng quanh năm. Tận dụng lợi thế đó, ông Chư cùng con trai không vội bán ngựa mà lựa chọn huấn luyện một số con để phục vụ du khách check-in, chụp ảnh.

Theo ông, việc bảo tồn giống ngựa bản địa không chỉ nhằm lưu giữ nguồn gen vật nuôi quý hiếm mà còn tạo điểm nhấn riêng, góp phần phát triển du lịch bền vững cho vùng “cổng trời” Mường Lống. Cách làm này vừa tạo sinh kế, vừa giúp con ngựa bản địa có thêm “chỗ đứng” trong đời sống hôm nay.

Trước nguy cơ giống ngựa bản địa ở Mường Lống dần đi vào dĩ vãng, Trung tâm Ứng dụng tiến bộ Khoa học và công nghệ Nghệ An đã phối hợp với Viện Chăn nuôi triển khai mô hình bảo tồn giống ngựa bản địa. Từ tập huấn kỹ thuật nuôi, hỗ trợ thuốc thú y, thức ăn đến hướng dẫn phòng chống dịch bệnh, mục tiêu là giữ lại nguồn gen vật nuôi quý hiếm gắn với văn hóa người Mông.

Phan Ngọc

 

news_is_not_ads=
TIN MỚI