 |
| Tiến sĩ Nguyễn Quang - Nguồn ảnh: UNESCO |
* Thưa ông, HĐND, UBND TP Hà Nội đặt mục tiêu di dời khoảng 860.000 dân khỏi nội đô nhằm tái thiết không gian đô thị. Ông đánh giá thế nào về chủ trương này và tính khả thi ra sao?
- Tiến sĩ Nguyễn Quang: Từ sau năm 1986, động lực thị trường và hội nhập đã thúc đẩy TP Hà Nội mở rộng nhanh chóng với các khu đô thị mới và nhà ở cao tầng. Thành phố từng bước chuyển sang cấu trúc đa cực nhưng quá trình phát triển thiếu đồng bộ khiến hạ tầng thường đi sau nhà ở, sự phân hóa không gian gia tăng và áp lực ngày càng lớn lên khu vực lõi lịch sử.
Trong bối cảnh đó, chủ trương tái thiết đô thị gắn với mục tiêu giãn khoảng 860.000 dân khỏi nội đô cần được nhìn nhận như một yêu cầu mang tính cấu trúc chứ không đơn thuần là giải pháp hành chính.
Khu vực nội đô của TP Hà Nội đã vượt quá ngưỡng chịu tải về dân số, hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội. Mật độ dân cư cao trong không gian hạn chế không chỉ làm suy giảm chất lượng sống mà còn cản trở việc bảo tồn di sản, cải thiện môi trường và tổ chức giao thông bền vững.
Trong điều kiện đó, việc tiếp tục “vá víu” hạ tầng nội đô không còn là giải pháp căn cơ. Cho nên, tái cấu trúc không gian dân cư là lựa chọn khó tránh khỏi.
Tuy nhiên, dưới góc nhìn chuyên môn, tính khả thi của chủ trương này phụ thuộc chủ yếu vào cách thức thực hiện chứ không nằm ở khẩu hiệu hay con số.
Giãn dân chỉ có thể thành công nếu các khu vực tiếp nhận dân cư mới là những không gian đô thị hoàn chỉnh, có việc làm, dịch vụ công, có cộng đồng xã hội và sự kết nối hiệu quả bằng giao thông công cộng khối lượng lớn.
* Nhiều đô thị lớn trên thế giới đã trải qua các quá trình tái thiết tương tự. Những kinh nghiệm nào đáng lưu ý đối với Hà Nội, thưa ông?
- Tái thiết và giãn dân nội đô không phải là hiện tượng cá biệt. Paris, Seoul, Tokyo hay Thượng Hải đều đã đi qua những chu kỳ tái cấu trúc khác nhau, với những bài học quan trọng.
Việc tái cấu trúc Paris cho thấy, giãn dân không có nghĩa làm rỗng trung tâm mà là tái phân bổ chức năng đô thị. Từ giữa thế kỷ XX, khi khu lõi lịch sử quá tải và xuống cấp, Pháp đã phát triển hệ thống các đô thị mới ở vành đai ngoài. Các đô thị này không chỉ cung cấp nhà ở mà còn có việc làm, trường đại học, dịch vụ, kết nối hiệu quả với Paris bằng mạng lưới giao thông công cộng. Nhờ đó, khu trung tâm Paris được tái cấu trúc thành không gian văn hóa, du lịch, sáng tạo và dịch vụ chất lượng cao.
Việc tái cấu trúc Seoul mang lại bài học rõ nét về vai trò của giao thông công cộng. Việc giãn dân chỉ thực sự hiệu quả khi gắn chặt với metro và đường sắt đô thị. Việc mở rộng mạng lưới tàu điện ngầm không chỉ để giải quyết giao thông mà còn là công cụ định hình cấu trúc đô thị và thói quen sinh hoạt của người dân. Đồng thời, việc tái cấu trúc Seoul cũng cho thấy, giãn dân chỉ bền vững khi song hành với việc nâng cấp chất lượng sống ở nội đô chứ không phải sự bỏ lại trung tâm.
Tái cấu trúc Tokyo lại là một mô hình linh hoạt hơn, dựa nhiều vào cơ chế thị trường và vai trò của khu vực tư nhân. Không có chiến dịch giãn dân mang tính hành chính rõ rệt, nhưng thành phố hình thành cấu trúc đa trung tâm hiệu quả thông qua các trung tâm thứ cấp như Shinjuku, Shibuya, Ikebukuro hay Yokohama và gắn với hệ thống đường sắt. Mỗi nhà ga lớn vừa là điểm trung chuyển, vừa là trung tâm đô thị tích hợp thương mại, việc làm, văn hóa và nhà ở, giúp giảm áp lực cho lõi đô thị.
Thượng Hải thể hiện cách tiếp cận thực dụng nhưng dài hạn: chuyển từ mở rộng theo chiều rộng sang tái cấu trúc không gian và chức năng. Nhiều khu công nghiệp cũ, bến cảng ven sông được chuyển thành không gian công cộng, văn hóa, sáng tạo, song song đó là phát triển các cực đô thị mới kết nối bằng hệ thống metro quy mô lớn.
Từ những kinh nghiệm này, có thể thấy, giãn dân chỉ thành công khi gắn với mô hình đô thị đa trung tâm thực chất; giao thông công cộng phải đi trước; tái thiết nội đô là nâng cấp vai trò trung tâm chứ không phải làm suy yếu nó.
 |
| Tiến sĩ Nguyễn Quang lưu ý, cách tiếp cận tái cấu trúc đô thị ở TP Hà Nội phải thận trọng và nhân văn - Ảnh minh họa: Bảo Khang |
* Bên cạnh chỗ ở, vấn đề an sinh xã hội và sinh kế của người dân sau khi di dời nên được giải quyết như thế nào?
- Trong mọi quá trình di dời, chỗ ở chỉ là điều kiện cần; an sinh xã hội, việc làm và sinh kế mới là yếu tố quyết định. Người dân chỉ thực sự an cư khi có khả năng tạo thu nhập ổn định tại nơi ở mới hoặc gần đó. Do đó, các khu tái định cư phải được quy hoạch như những không gian kinh tế hoàn chỉnh, có việc làm tại chỗ hoặc khả năng tiếp cận thuận tiện tới các khu vực tạo việc làm.
Nếu người dân buộc phải quay lại nội đô để mưu sinh, quá trình di dời sẽ không bền vững và còn gia tăng áp lực giao thông. Thực tế ở nhiều khu tái định cư xa trung tâm cho thấy, thiếu việc làm tại chỗ khiến đời sống bấp bênh dù điều kiện nhà ở được cải thiện.
Song song với đó, hệ thống an sinh xã hội phải đi trước hoặc đồng thời. Đó là trường học, bệnh viện, chợ dân sinh, không gian sinh hoạt cộng đồng, dịch vụ cho người già và trẻ em. Đây không chỉ là phúc lợi mà là yếu tố tạo niềm tin cho người dân khi thay đổi nơi ở.
Các chính sách chuyển tiếp cũng rất quan trọng, nhất là với nhóm dễ bị tổn thương như lao động tự do, hộ kinh doanh nhỏ, người cao tuổi. Hỗ trợ đào tạo nghề, chuyển đổi việc làm, tín dụng ưu đãi và hỗ trợ thu nhập trong giai đoạn đầu sẽ giúp hạn chế cú sốc. Kinh nghiệm từ Nhật Bản cho thấy, tái thiết đô thị thường đi kèm đào tạo lại nghề và bố trí không gian kinh doanh mới gần các trung tâm giao thông.
* Việc di dời có thể tác động thế nào đến bản sắc văn hóa và sự gắn kết cộng đồng của Hà Nội?
- Di dời dân cư không chỉ là dịch chuyển nơi ở mà là can thiệp sâu vào cấu trúc văn hóa, xã hội đã hình thành qua nhiều thế hệ. Nhiều khu dân cư ở nội đô Hà Nội là những “không gian văn hóa sống”, nơi tập quán, nghề nghiệp, tín ngưỡng và quan hệ xã hội được tích tụ lâu dài.
Khi cộng đồng bị tách khỏi không gian quen thuộc, bản sắc văn hóa có nguy cơ bị đứt gãy. Nếu di dời theo cách cơ học, sự gắn kết cộng đồng - vốn rất bền chặt ở các khu phố cổ, phố cũ, khu tập thể hay làng trong đô thị - sẽ suy yếu.
Để hạn chế điều này, cần coi cộng đồng là một chủ thể xã hội, không chỉ là tập hợp các hộ gia đình. Việc tái định cư nên ưu tiên theo nhóm cộng đồng quen thuộc, hạn chế chia cắt các mối quan hệ xã hội. Không gian ở mới cần được thiết kế để tái tạo đời sống cộng đồng, với sân chung, nhà sinh hoạt, chợ dân sinh và không gian văn hóa phù hợp. Với những khu vực có giá trị đặc thù, cần cân nhắc cải tạo, chỉnh trang tại chỗ hoặc di dời một phần, thay vì di dời toàn bộ.
 |
| Tái cấu trúc nội đô phải song hành với bảo tồn bản sắc văn hóa cộng đồng - Ảnh minh họa: Bảo Khang. |
* Như ông đã nói, việc di dời dân, tái thiết đô thị là tất yếu. Vậy, khi làm những việc này, chính quyền thành phố cần lưu ý gì để tạo được sự đồng thuận xã hội?
- Sự đồng thuận xã hội là rất quan trọng, là yếu tố then chốt. Chính quyền cần tham vấn cộng đồng và chuyên gia. Khi người dân được tham gia từ sớm và thấy tiếng nói của mình được ghi nhận, sự đồng thuận sẽ hình thành tự nhiên.
Minh bạch thông tin và quy hoạch là điều kiện tiên quyết để tạo niềm tin xã hội. Lộ trình di dời, phương án tái định cư, kế hoạch đầu tư hạ tầng và sử dụng đất cần được công khai, dễ tiếp cận. Đồng thời, phải làm rõ trách nhiệm và tính giải trình trong toàn bộ quá trình, gắn trách nhiệm của cơ quan quản lý với chất lượng sống thực tế của người dân sau di dời.
Bên cạnh đó, chính quyền thành phố cần coi chuyển đổi số và công nghệ là công cụ lõi của quản trị đô thị hiện đại, giúp mô phỏng các kịch bản di dời và hỗ trợ việc ra quyết định. Cuối cùng, tài chính đô thị phải được thiết kế bền vững và công bằng để lợi ích từ sự phát triển đô thị được phân bổ hài hòa giữa Nhà nước, nhà đầu tư và người dân bị ảnh hưởng.
* Xin cảm ơn tiến sĩ.
Huyền Anh thực hiện