Lão ngư giữ khối đoàn kết của vạn chài Mỹ Á

08/04/2026 - 06:22

PNO - Tôi tìm đến nhà ông Nguyễn Xết - vạn trưởng làng chài Mỹ Á, thuộc tổ dân phố Hải Tân, phường Trà Câu, tỉnh Quảng Ngãi. Người nhà chỉ về phía cảng: “Ra ngoài cửa biển, thấy ông nào la lớn, hối ghe nhiều nhất là ổng đó”.

Tiếng loa giữa sóng dữ

Giữa cầu cảng chật kín tàu thuyền, một người đàn ông tóc bạc quá nửa nhưng vóc dáng rắn rỏi, gương mặt rám nắng đang đứng trên bục, tay chỉ, miệng hô: “Kéo qua bên trái chút coi. Cho mấy cái tàu kia nó cập với. Đông ri, để ri là đụng nhau hết đó”. Vừa nói, ông vừa nhảy vào kéo dây, chống sào. Đó chính là ông Nguyễn Xết.

Ở tuổi 71 - cái tuổi mà nhiều “lão ngư” đã nghỉ ngơi - ông vẫn giữ nhịp sống của ngư dân miền biển. 23 năm làm trưởng vạn là 23 năm ông cùng bà con Mỹ Á đi qua những mùa biển khắc nghiệt. Ông nhớ như in những ngày cửa biển bị bồi lấp, tàu thuyền liên tục mắc nạn, nước rút thì mắc cạn, nước lên thì sóng đánh úp. Có ngư dân phải bỏ tàu để chạy lấy người. Ông kể: “Hồi nớ, tàu bị nạn miết. Tui với anh em mới nói thôi, không chờ ai cho nữa, tự góp tiền thuê người về hút cát. Làm xong mùa ni, mùa sau nó lấp lại. Nhưng không làm thì bà con chết”.

Một góc cảng Mỹ Á
Một góc cảng Mỹ Á

Trong ký ức người làng, ông Nguyễn Xết gắn với những cuộc cứu nạn. Hễ ngoài cửa biển có chuyện là họ nghe tiếng ông Sáu Xết. Một đêm năm 2003, chiếc tàu cùng 11 ngư dân bị sóng đánh vỡ ngay gành đá khi đang cố chạy vào tránh bão. Đêm đó, gió rít, sóng đập như xé mặt biển. Ông Xết vừa chạy quanh làng, vừa la: “Có ghe bị nạn ngoài cửa, ra cứu bà con ơi”. Cả làng bật dậy, xách dây, đẩy thúng, cùng lao ra biển. Gần 1 ngày đêm vật lộn với sóng dữ, họ đã kéo được 11 người vào bờ.

13 năm sau, vẫn ở cửa biển ấy, vẫn những con sóng dữ. Tàu của anh Nguyễn Tư mắc nạn ngay trước cửa biển, lưới quấn chân vịt, sóng đánh dồn dập. Anh em trên tàu không dám nhảy xuống, chỉ biết bám tàu chờ. Lại là ông Xết chạy đi hô và cả làng kéo ra. “Nếu không có ổng hô bà con, chắc tụi tui chết hết rồi. Lúc đó, không ai dám nhảy xuống biển, vì nhảy là đi luôn. Nhờ làng kéo vô kịp, giữ được mạng. Tàu thì thôi, bán xác luôn” - anh Tư nói, giọng không giấu được sự biết ơn, dù mắt vẫn đượm nỗi buồn của người mất cả cơ nghiệp, là con tàu.

Ông Nguyễn Xết còn nổi tiếng là người “nhìn cá, biết chuyện”. Chỉ cần liếc qua mẻ cá mà tàu xuất bán là ông biết ngay chuyến biển đó làm ăn có đàng hoàng hay không. Có lần, thấy tàu ngoài vạn sử dụng ngư cụ không đúng, ông gọi lại, nói thẳng: “Đi biển thì đi cho tử tế, đừng có vì cái lợi trước mắt mà làm bậy”.

Vì cái nghĩa, cái tình

Sức mạnh của ông Sáu Xết không chỉ nằm ở đôi tay chèo lái hay tiếng hô dõng dạc mà còn nằm ở cách ông giữ lòng người. Ông lập ra một quỹ hỗ trợ ngư dân mang tên “Quỹ hỗ trợ đặc biệt”, nhưng nguồn quỹ này chẳng có lấy một đồng tiền mặt trong két.

Ông Nguyễn Xết bên mô hình tàu biển đặt trong nhà mình
Ông Nguyễn Xết bên mô hình tàu biển đặt trong nhà mình

Ông Sáu cười hiền: “Tiền vẫn ở trong túi bà con đó thôi”. Mỗi khi có tàu trong vạn gặp nạn, ông lại đi từng nhà kêu gọi. Tùy lòng hảo tâm, mỗi chủ tàu đóng góp 1-2 triệu đồng, thậm chí hơn. Với 120 tàu cá trong vạn, số tiền ấy đủ để một chủ tàu vừa gặp nạn có thể mua lại lưới, sửa lại máy để tiếp tục vươn khơi. Cách làm này khiến người dân Mỹ Á không bao giờ rơi vào cảnh vỡ nợ hay phải bỏ biển do thiếu vốn.

Không chỉ lo chuyện tàu bè, ông Sáu còn lo cả “phần hồn” cho làng. Mỗi dịp tết đến, một mình ông đứng ra xếp luồng lạch, phân chia chỗ neo đậu để bà con xuất hành đầu năm thuận buồm xuôi gió. Ông lo từ thủ tục xuất bến, vay vốn ngân hàng đến cả việc dặn dò đám thanh niên không được nhậu quá khuya, để giữ sức mà đi biển.

Khi tôi hỏi về sự đoàn kết đặc biệt của người dân Mỹ Á, ông Sáu trầm tư kể, năm 1969, chiến tranh ác liệt, cả làng phải tản cư vào Sa Huỳnh, sống nhờ đất người 16 năm ròng. Chính những ngày tháng ly tán, ăn nhờ ở đậu ấy đã hun đúc nên một cộng đồng biết thương nhau hơn bất cứ nơi nào. Khi hòa bình lập lại, họ trở về, cùng nhau dựng nhà, cùng nhau đối mặt với cửa biển “tử thần”. Có lẽ vì thế mà không giống nhiều làng chài khác, Mỹ Á hôm nay khá sầm uất, nhà cửa khang trang, tàu thuyền lớn nhỏ san sát. Nhiều làng biển khác tấm tắc khi nhắc đến họ: “Làm ăn rất được”.

Dẫn tôi xem mô hình tàu biển treo trang trọng trên tường phòng khách, ông tâm sự: “Già rồi, không ra khơi xa nữa. Nhiều lần muốn nghỉ để cho mấy đứa trẻ làm, nhưng bà con chưa cho”. Nếu ông Sáu Xết như cánh chim báo bão của làng, thì bà Sâm - vợ ông - tựa ngọn hải đăng lặng lẽ. Từ thuở mười chín đôi mươi, bà theo ông về làm dâu xứ này, đã quen với việc trong lòng chồng mình còn có cả thiên hạ. Bà nhớ những đêm bão gầm gào, ông Sáu bật dậy như lò xo, vớ lấy chiếc áo mưa và cây đèn pin, lao vào đêm tối mịt mùng.

“Hồi đó, nghe tiếng loa ông ấy vang lên giữa đêm, tui vừa lo, vừa thương. Lo cho anh em bạn biển ngoài kia, thương ông ấy hễ nghe có chuyện là quên cả đường lui” - bà Sâm trải lòng với nụ cười hiền hậu, đôi mắt đã mờ đục bởi gió mặn thời gian.

Có những cuộc cứu nạn kéo dài xuyên đêm đến sáng, bà Sâm cũng chẳng thể chợp mắt. Bà lẳng lặng nhóm bếp lửa, đun sẵn nồi nước gừng ấm, chuẩn bị ít quần áo khô. Bà hiểu, khi chồng trở về, không chỉ có ông ướt sũng, lạnh run mà có khi còn mang theo cả chục ngư dân vừa thoát chết. Căn nhà của ông bà không ít lần trở thành “trạm xá” dã chiến, nơi những chén trà gừng của bà đã vực dậy tinh thần cho những người đàn ông vừa mất đi cả gia sản dưới đáy đại dương.

Nửa thế kỷ nghĩa tào khang, bà Sâm chưa một lần cằn nhằn chuyện ông “ăn cơm nhà, vác tù và hàng tổng”. Với bà, việc ông Sáu làm không chỉ là trách nhiệm vạn trưởng mà còn là cái đức để lại cho con cháu. Bà nói: “Ông ấy đi cứu người thì ở nhà tui lo quán xuyến cháu con, chợ búa. Đàn ông Mỹ Á ra khơi nhờ sự đoàn kết, còn đàn bà Mỹ Á giữ lửa nhờ sự nhẫn nại”.

Nhìn cách bà Sâm chăm chút cho ông từng chiếc áo, từng bữa cơm khi ông vừa ở cảng về, tôi hiểu vì sao lão ngư Sáu Xết lại có thể bền bỉ “gác cửa” Mỹ Á suốt mấy chục năm qua mà không một phút nản lòng. Nghĩa tình của họ giản đơn như con nước lớn ròng nhưng lại vững chãi như rạn đá gành Một, gành Cửa, ôm lấy làng chài qua bao mùa dâu bể.

Rời Mỹ Á khi hoàng hôn bắt đầu nhuộm tím những gành đá, tôi vẫn nghe văng vẳng tiếng loa rổn rảng của ông vạn trưởng ngoài cảng. Ở nơi đầu sóng ngọn gió này, thiên nhiên có thể khắc nghiệt, cửa biển có thể đầy cạm bẫy nhưng chừng nào còn những người như ông Sáu Xết, chừng đó tấm lòng người miền biển vẫn sẽ là đê chắn sóng vững chãi nhất, chở che cho sự bình yên của làng chài dưới chân núi Một, núi Cửa.

Năm 2019, ông Nguyễn Xết được UBND tỉnh Quảng Ngãi tặng bằng khen trong chương trình “Những tấm gương bình dị và cao quý” do có nhiều đóng góp trong việc xây dựng đời sống cộng đồng, như vận động ngư dân phối hợp cứu hộ, cứu nạn tại cửa biển Mỹ Á, góp phần hạn chế thiệt hại về người và tài sản.

Uông Ngọc

 

news_is_not_ads=
TIN MỚI