Doanh nghiệp 'nín thở' trong 150 ngày Mỹ áp thuế tạm thời

28/03/2026 - 07:02

PNO - Từ ngày 24/2 - 24/7 (tức 150 ngày), hàng hóa các nước nhập khẩu vào Mỹ chịu mức thuế tạm thời 10% sau khi Tòa án Tối cao Mỹ bác bỏ các chính sách thuế nhập khẩu của Tổng thống Mỹ Donald Trump. 150 ngày hưởng mức thuế thấp lẽ ra là khoảng thời gian để các doanh nghiệp tăng tốc xuất khẩu vào Mỹ, nhưng thực tế lại khác.

Đơn hàng vừa chậm, vừa ngắn

Các năm trước, sau tết Nguyên đán là mùa xuất khẩu nhộn nhịp vào thị trường Mỹ của doanh nghiệp dệt may Việt Nam nhưng năm nay, đơn hàng chậm hẳn.

Ông Phạm Văn Việt - Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty TNHH Việt Thắng Jean - cho biết, đơn hàng đi Mỹ của công ty giảm rõ rệt. Từ tháng Tư trở đi, số đơn hàng có thể giảm tới 30% so với cùng kỳ năm trước. Theo ông, ngành dệt may vẫn phụ thuộc nhiều vào nguyên liệu nhập khẩu, nên nguy cơ bị đánh thuế cao sau 150 ngày vẫn hiện hữu. Bên cạnh đó, các yêu cầu mới về môi trường, hộ chiếu sản phẩm hay khả năng áp thuế môi trường trong tương lai cũng tạo thêm sức ép lên công ty. Công ty lẫn các đối tác nhập khẩu đều chưa rõ chính sách thuế sẽ ra sao sau 150 ngày nên đều có ý chờ, dẫn đến hợp đồng chậm hơn và ngắn hạn hơn.

Công nhân Công ty cổ phần Tập đoàn Xuân Nguyên đóng gói mật ong - một trong những mặt hàng xuất khẩu vào thị trường Mỹ
Công nhân Công ty cổ phần Tập đoàn Xuân Nguyên đóng gói mật ong - một trong những mặt hàng xuất khẩu vào thị trường Mỹ

Ông Lư Nguyễn Xuân Vũ - Tổng giám đốc Công ty cổ phần Tập đoàn Xuân Nguyên - cho biết, công ty ông đang bị ép giá, kéo dài thời gian giao dịch, thậm chí có thể mất đơn hàng vào tay các nhà cung cấp khác có mức thuế ưu đãi hơn: “Với ngành có biên lợi nhuận không cao như mật ong, mỗi thay đổi về thuế đều tác động trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh. Nếu không có phương án dự phòng, dòng tiền và kế hoạch sản xuất sẽ bị ảnh hưởng ngay trong ngắn hạn”.

Giáo sư Trần Ngọc Anh (Đại học Indiana, Mỹ) cho rằng, thặng dư thương mại lớn của Việt Nam với Mỹ làm gia tăng khả năng Việt Nam trở thành đối tượng trong các cuộc điều tra thương mại mới. Năm ngoái, Việt Nam có mức thặng dư thương mại hàng hóa với Mỹ khoảng 178 tỉ USD. Riêng trong tháng 1/2026, Việt Nam là một trong những nước có mức thặng dư thương mại với Mỹ cao nhất.

Theo ông, khi giai đoạn thuế tạm thời kết thúc (ngày 24/7 tới), chính sách thương mại của Mỹ có thể rẽ theo nhiều hướng khác nhau. Dù theo kịch bản nào, môi trường thương mại sắp tới sẽ biến động và khó dự đoán hơn.

Chủ động ứng phó

Ông Nguyễn Đức Nghĩa - Phó giám đốc Trung tâm Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, Hiệp hội Doanh nghiệp TPHCM (HUBA) - nhận định, mỗi biến động trong chính sách thương mại của Mỹ vừa là áp lực, vừa là cơ hội buộc doanh nghiệp phải thay đổi.

Ông phân tích, doanh nghiệp Việt Nam đang chịu sức ép rõ rệt khi chi phí đầu vào tăng nhanh trong thời gian ngắn khiến giá thành sản xuất bị đội lên nhưng lại không thể tăng giá bán. Thêm nữa, thay vì ký hợp đồng dài hạn, nhiều doanh nghiệp phải chia nhỏ đơn hàng, xây dựng kế hoạch sản xuất theo ngắn hạn. Dù vậy, áp lực từ thuế và thị trường cũng thúc đẩy doanh nghiệp chuyển đổi nhanh hơn. Họ buộc phải đầu tư vào chuyển đổi số, cải tiến quy trình sản xuất, nâng cao tiêu chuẩn sản phẩm để đáp ứng thị trường Mỹ, mở rộng thị trường sang các nước và khu vực khác.

Ông Lư Nguyễn Xuân Vũ cho biết, công ty đã chủ động đa dạng hóa thị trường để giảm phụ thuộc vào Mỹ; tối ưu hóa chi phí sản xuất và logistics nhằm giữ biên lợi nhuận; chủ động đàm phán với đối tác để chia sẻ chi phí thuế; tận dụng các hiệp định thương mại tự do để chuyển hướng đơn hàng, giảm chi phí đầu vào. “Về dài hạn, chúng tôi đang nâng giá trị gia tăng sản phẩm, giảm phụ thuộc vào lợi thế giá, đồng thời mở rộng thị trường nội địa và khu vực để giảm rủi ro” - ông nói.

Ông Phạm Văn Việt cho hay, từ năm ngoái, công ty đã chuyển một phần đơn hàng sang các thị trường châu Á, đặc biệt là khu vực ASEAN. Kết quả bước đầu cho thấy, các đối tác trong khu vực đặt hàng ổn định hơn, giúp doanh nghiệp giảm bớt sự phụ thuộc vào thị trường Mỹ trong giai đoạn nhiều biến động hiện nay.

150 ngày là giai đoạn chuẩn bị Mức thuế tạm thời khoảng 10% đang được áp dụng mang tính cầu nối hơn là một chính sách ổn định lâu dài. Trong khoảng thời gian này, phía Mỹ sẽ tiếp tục thu thập dữ liệu, hoàn thiện cơ sở pháp lý để xây dựng các chính sách thương mại tiếp theo. Vì vậy, 150 ngày không phải là giai đoạn nới lỏng chính sách mà là khoảng thời gian để định hình lại chính sách trong dài hạn.

Để ứng phó, doanh nghiệp Việt Nam cần nâng cao tỉ lệ nội địa hóa và chủ động chuẩn bị dữ liệu, chứng minh cho toàn bộ chuỗi sản xuất. Khi các yêu cầu của thị trường nhập khẩu ngày càng gia tăng, việc chứng minh nguồn gốc nguyên liệu, quy trình sản xuất, lao động… trở thành điều kiện bắt buộc để bảo vệ mức thuế hợp lý. Ngoài ra, doanh nghiệp Việt cũng cần hiểu rõ hơn hệ thống chính sách và yêu cầu kỹ thuật của thị trường Mỹ thay vì phụ thuộc quá nhiều vào các khâu trung gian. Việc chủ động kết nối trực tiếp với đối tác, nắm bắt quy định và cách vận hành thị trường sẽ giúp doanh nghiệp Việt phản ứng nhanh và chính xác hơn khi Mỹ thay đổi chính sách.

Dương Hồng Loan - Viện trưởng Viện Sáng kiến Việt Nam

Cần cơ chế phản ứng nhanh

Kinh nghiệm từ các nền kinh tế phụ thuộc xuất khẩu như Singapore hay New Zealand cho thấy, tốc độ phản ứng của cơ quan quản lý đối với sự thay đổi chính sách của Mỹ là rất quan trọng. Với chính sách thuế tạm thời của Mỹ, nhà chức trách Singapore nhanh chóng cập nhật hướng dẫn hải quan, công bố thông tin thị trường, nhà chức trách New Zealand triển khai các chương trình tư vấn pháp lý, hỗ trợ doanh nghiệp rà soát hợp đồng.

Do đó, Việt Nam cần sớm hình thành một cơ chế điều phối tập trung, theo dõi sát diễn biến chính sách trong 150 ngày, cập nhật thông tin thường xuyên cho doanh nghiệp. Cơ quan chức năng cần quản lý chặt chẽ về xuất xứ hàng hóa, kiểm soát việc cấp giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O) để hạn chế rủi ro chuyển tải, tránh bị điều tra thương mại. Các doanh nghiệp cần rà soát lại toàn bộ hợp đồng với đối tác Mỹ, đặc biệt là các điều khoản về giá, chi phí và điều kiện giao hàng nhằm phân bổ lại rủi ro về thuế, đồng thời cần quản trị chặt chuỗi cung ứng, chuẩn bị đầy đủ hồ sơ về nguồn gốc nguyên liệu để sẵn sàng đáp ứng các yêu cầu kiểm tra từ phía thị trường nhập khẩu.

Tiến sĩ Huỳnh Thế Du (Đại học Wisconsin Oshkosh, Mỹ)

Mai Ca

 

news_is_not_ads=
TIN MỚI