LTS: Chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa đã trở thành bước chuyển chiến lược để mở rộng không gian sáng tạo và khẳng định chủ quyền văn hóa trên không gian mạng. Theo đề án “Chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” được phê duyệt ngày 4/4/2026, dữ liệu là nguồn tài nguyên mới để bảo tồn, quản trị và định vị giá trị Việt. Nhằm nhận diện rõ cơ hội và thách thức của văn hóa nước nhà trong môi trường số, loạt bài của Báo Phụ nữ TPHCM sẽ đi vào từng lĩnh vực cụ thể, nhìn lại những khó khăn, thuận lợi để việc chuyển đổi số đạt hiệu quả cao nhất. Chỉ khi dữ liệu được chuẩn hóa, kết nối và khai thác đúng hướng, văn hóa Việt mới có thể bảo vệ tốt quyền lợi sáng tạo và tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu của nền kinh tế sáng tạo. Bài 1: Thư viện và văn học - mỏ vàng của kinh tế sáng tạo
Bài 2: Hạ tầng số của nghệ thuật biểu diễn |
Chuyển Đổi Số Là Sống Còn
Theo đề án “Chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”, 100% các loại hình di sản văn hóa đã số hóa được chuẩn hóa dữ liệu theo khung chuẩn quốc gia và chia sẻ như quy định; 80% di sản văn hóa số công có mã định danh số để xác lập quyền sở hữu, kiểm soát khai thác, khuyến khích người dân, tổ chức, doanh nghiệp cũng xác định mã định danh, quyền sở hữu để thúc đẩy thị trường...
 |
| Du khách sử dụng ứng dụng Imuseum của Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam để nghe thuyết minh - Nguồn ảnh: Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam |
Nhìn vào kho tàng di sản rất đồ sộ và mục tiêu đề án, có thể thấy khối lượng công việc ngành di sản phải làm trong những năm tới là khổng lồ. Theo số liệu do Cục Di sản văn hóa cung cấp năm 2025, Việt Nam hiện sở hữu khoảng 40.000 di tích trong danh mục kiểm kê, hơn 11.000 di tích cấp tỉnh, 3.677 di tích quốc gia và 147 di tích quốc gia đặc biệt. Cùng với đó là hàng chục ngàn di sản văn hóa phi vật thể đang được kiểm kê, 358 di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, 327 bảo vật quốc gia và hơn 4 triệu hiện vật đang được lưu giữ tại hệ thống bảo tàng trên cả nước. Việt Nam cũng có 37 danh hiệu và di sản được UNESCO công nhận, ghi danh ở nhiều loại hình.
“Kho tàng di sản văn hóa Việt Nam là một nguồn tài sản vô giá đối với sự phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa của đất nước. Di sản là tài sản tinh thần, tài sản nhân văn nhằm lưu giữ bản sắc văn hóa dân tộc, giúp ổn định xã hội, xây dựng đời sống tinh thần, tâm linh của nhân dân, đồng thời là một nguồn lực để phát triển kinh tế vô cùng lớn”. Giáo sư, tiến sĩ Lê Hồng Lý |
Tuy vậy, đi cùng niềm tự hào là áp lực lớn về bảo tồn, quản lý và phát huy giá trị trước những thách thức từ biến đổi khí hậu, thiên tai, đô thị hóa và sự xuống cấp của các hiện vật, di tích theo thời gian. Số hóa vì thế trở thành một giải pháp chiến lược. Các công nghệ như quét 3D, mô hình thực tế ảo (VR), thực tế tăng cường (AR), trí tuệ nhân tạo (AI)... đang mở ra khả năng lưu giữ gần như nguyên trạng những giá trị vật thể và phi vật thể dưới dạng dữ liệu số.
Giáo sư, tiến sĩ Lê Hồng Lý - Chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam - nhận định: “Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên mới với những nghị quyết quan trọng của Đảng, gần đây nhất là Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 và Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIV, văn hóa đã được xác định là 1 trong 4 trụ cột phát triển của đất nước. Sự phát triển của công nghiệp văn hóa cùng những kết quả đạt được trong 2 năm gần đây cho thấy văn hóa đã mang lại nguồn lực kinh tế đáng kể, góp phần xóa bỏ quan niệm văn hóa luôn đi sau hoặc phụ thuộc vào kinh tế, chính trị. Vì vậy, việc khai thác di sản văn hóa truyền thống đang trở thành một mũi nhọn trong phát triển công nghiệp văn hóa”.
Không dừng lại ở nhiệm vụ bảo tồn, số hóa còn mở rộng khả năng tiếp cận di sản đến công chúng. Điều này đã được một số bảo tàng tại TPHCM thực hiện. Thay vì phải đến tận nơi, người dùng ở bất kỳ đâu trên thế giới đều có thể tham quan các bảo tàng trực tuyến, khám phá không gian di tích bằng công nghệ thực tế ảo hoặc tiếp cận kho tư liệu số chỉ với vài thao tác trên thiết bị di động. Điều đó đặc biệt quan trọng khi người trẻ ngày càng tiếp nhận tri thức thông qua nền tảng số. Nếu di sản không hiện diện trong môi trường số, nguy cơ bị lãng quên hoặc trở nên xa lạ với công chúng là điều hoàn toàn có thể xảy ra.
Thách thức không nhỏ
Theo phó giáo sư, tiến sĩ Lâm Nhân - Hiệu trưởng Trường đại học Văn hóa TPHCM - đến nay, đã có một số đơn vị trong lĩnh vực di sản như bảo tàng, thư viện, trung tâm lưu trữ, khu di tích... đang từng bước ứng dụng công nghệ số vào số hóa hiện vật, xây dựng cơ sở dữ liệu, phát triển bảo tàng số, triển lãm trực tuyến, thực tế ảo và các nền tảng tương tác số nhằm mở rộng khả năng tiếp cận công chúng.
 |
| Cô trò Trường THCS Minh Đức tương tác với robot Batalis tại Bảo tàng Lịch sử TPHCM - Nguồn ảnh: Bảo tàng Lịch sử TPHCM |
Thạc sĩ Vũ Thị Thu Hương (Viện Nghiên cứu phát triển TPHCM) cũng đồng tình rằng số hóa di sản đứng trước nhiều thách thức. Theo bà, khoảng trống lớn nhất hiện nay trong chuyển đổi số di sản nằm ở quản trị bởi tốc độ sản xuất dữ liệu đang vượt xa tốc độ cải cách thể chế, tạo ra sự lệch pha rất lớn. Những sự lệch pha này hình thành khoảng trống quản trị vô hình.
Từ chia sẻ của các chuyên gia, có thể thấy không ít dự án số hóa hiện tập trung vào việc tạo ra dữ liệu nhưng chưa có chiến lược dài hạn cho việc quản lý, cập nhật, chia sẻ và khai thác dữ liệu trong tương lai. Điều đó dẫn đến nguy cơ hình thành những kho dữ liệu tồn tại độc lập khi mỗi đơn vị xây dựng một hệ thống riêng biệt, sử dụng các chuẩn khác nhau nên không thể kết nối. Nếu không có tiêu chuẩn thống nhất ngay từ đầu, dữ liệu được tạo ra hôm nay có thể trở nên lỗi thời hoặc khó sử dụng chỉ sau vài năm.
“Chuyển đổi số không chỉ góp phần bảo tồn di sản hiệu quả hơn mà còn mở ra những cơ hội mới để kết nối di sản với giáo dục, du lịch, văn hóa... Tuy nhiên, lĩnh vực di sản vẫn đang đặt ra nhiều vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, thảo luận: hoàn thiện chính sách và hành lang pháp lý, chuẩn hóa dữ liệu, bảo đảm tính liên thông và chia sẻ tài nguyên số, đào tạo nguồn nhân lực, cân bằng giữa bảo tồn và khai thác…”. Phó giáo sư, tiến sĩ Lâm Nhân |
Một vấn đề khác là chi phí thực hiện và duy trì quá trình chuyển đổi số. Để chuyển đổi số cần đầu tư rất lớn cho hạ tầng lưu trữ, bảo mật, sao lưu, nâng cấp hệ thống và đào tạo nhân lực. Hiện nay, đa phần các đơn vị đang chuyển đổi số theo hướng thực hiện ngắn hạn, phụ thuộc kinh phí từng giai đoạn nên chưa mạnh dạn và cũng chưa đủ tiềm lực để đầu tư dài hạn.
Chuyển đổi số không phải cuộc đua về tốc độ hay số lượng dữ liệu được số hóa. Điều quan trọng hơn là chất lượng dữ liệu, năng lực quản trị dữ liệu và bài toán con người phải được đồng bộ, thực hiện cùng lúc. Với kho tàng di sản phong phú, số hóa là cơ hội để Việt Nam bảo tồn những giá trị quý giá của quá khứ và khai thác phù hợp, hiệu quả trong hiện tại và tương lai. Để cơ hội đó trở thành động lực phát triển thực sự, ngành di sản cần một tầm nhìn dài hạn, một chiến lược dữ liệu quốc gia bài bản và sự phối hợp đồng bộ giữa công nghệ, văn hóa và quản trị.
Diễm Mi