Cuộc đua lãi suất ngầm
Ngày 9/4, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã kêu gọi các ngân hàng giảm lãi suất huy động để làm cơ sở giảm lãi suất cho vay nhằm hỗ trợ nền kinh tế. Ngay sau đó, gần như toàn bộ các ngân hàng đã đồng thuận giảm lãi suất huy động ở các kỳ hạn từ 6-12 tháng với mức giảm từ 0,1 - 1%/năm.
Nhưng trên thực tế, do tăng trưởng nguồn vốn huy động thấp hơn tăng trưởng tín dụng (tốc độ tăng dư nợ tín dụng), nhiều ngân hàng vẫn tìm cách thu hút tiền gửi thông qua các hình thức tặng kèm lãi suất “bên ngoài” hoặc trả lãi suất cao thông qua bên thứ ba.
Chẳng hạn, Ngân hàng Thương mại cổ phần (TMCP) Phương Đông (OCB) niêm yết mức lãi suất huy động kỳ hạn 6-12 tháng là 6,7 - 6,8%/năm nhưng thông qua Liobank - ứng dụng ngân hàng số do OCB hợp tác cùng Fintech Farm phát triển - mức lãi suất thực nhận của khách hàng với kỳ hạn 6 tháng có thể lên tới 8,2%/năm. Ứng dụng Liobank còn có nhiều chương trình ưu đãi như: chỉ cần duy trì số dư từ 500.000 đồng trở lên, khách hàng sẽ được cộng thêm 3,5%/năm lãi suất; được nhận ngay 6 triệu đồng/sổ nếu giới thiệu bạn bè mở sổ tiết kiệm kỳ hạn từ 6 tháng trở lên và giữ sổ tối thiểu 3 tháng.
Khi có tài khoản trên ví điện tử MoMo, người dùng có thể chọn gửi tiết kiệm vào các ngân hàng đối tác của MoMo với lãi suất hấp dẫn, chẳng hạn gửi tiết kiệm kỳ hạn 12 tháng vào Ngân hàng MBV thì được hưởng lãi suất 7%/năm. Do chi phí huy động thực tế của các ngân hàng vẫn neo ở mức cao nên lãi suất cho vay thương mại chưa thể giảm. Mức lãi suất ưu đãi năm đầu (cố định trong 6 tháng đầu) khi cho vay để sản xuất, kinh doanh phổ biến là 8 - 9%/năm, sau đó theo mức bằng lãi suất tham chiếu cộng thêm biên độ khoảng 1,5%/năm. Mức lãi suất cho vay mua nhà còn cao hơn mức trên.
 |
| Khách hàng tham khảo lãi suất tiền gửi tiết kiệm tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Nam Á (Nam A Bank) |
Một nhân viên Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TPBank) cho biết, lãi suất cho vay mua nhà cố định năm đầu là 10,2%/năm. Nhân viên Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB) cũng cho biết, lãi suất cho vay cố định là 11%/năm cho năm đầu, 11,7%/năm cho 2 năm đầu, sau đó thả nổi thì có thể lên 12,5 - 14%/năm. Ngay ở khối ngân hàng nước ngoài như UOB, Woori Bank, Shinhan Bank… vốn có lãi suất cho vay thấp, hiện tại, mức lãi suất cho vay năm đầu tiên cũng 9,2 - 9,4%/năm.
Lãi suất cho vaykhó giảm sâu
Chuyên gia tài chính độc lập Huỳnh Trung Minh phân tích, ngân hàng không thể hạ mạnh lãi suất do 3 nguyên nhân.
Thứ nhất, bất ổn địa chính trị thế giới khiến người dân có tâm lý phòng thủ, rút vốn khỏi các kênh như chứng khoán, bất động sản để tìm nơi “ẩn náu” tiền an toàn; nếu ngân hàng không giữ chân thì họ sẽ chuyển dòng tiền đi nơi khác. Thứ hai, các ngân hàng huy động vốn ngắn hạn nhưng cho vay trung và dài hạn nên buộc phải duy trì cuộc đua lãi suất nhằm giữ dòng tiền huy động liên tục, phòng khi khách hàng rút tiền hàng loạt. Thứ ba, trong quá khứ, nhiều ngân hàng đã áp dụng lãi suất cao cho kỳ hạn 1-2 năm khiến chi phí vốn hiện tại vẫn quá cao, nếu giảm lãi suất huy động đột ngột thì sẽ mất thanh khoản.
Theo ông, để vẫn hút được vốn mà vẫn không làm phật lòng cơ quan quản lý, nhiều ngân hàng chọn giải pháp bắt tay với các công ty công nghệ tài chính (fintech) hoặc các định chế tài chính trung gian nhằm đẩy mức lãi suất ngầm lên cao. Điều này đang trực tiếp tạo ra một sân chơi bất bình đẳng và gây thiệt thòi nghiêm trọng cho chính hệ thống ngân hàng. Những ngân hàng tôn trọng chủ trương của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước, chủ động hạ lãi suất để hỗ trợ nền kinh tế thì ngay lập tức phải chịu cảnh “chảy máu” dòng tiền, mất hết khách hàng vào tay đối thủ. Những ngân hàng cho vay qua kênh fintech hoặc ứng dụng số thì vẫn sống khỏe và thâu tóm thị phần tiền gửi.
Cũng theo ông Huỳnh Trung Minh, không thể dùng mệnh lệnh hành chính ép buộc các ngân hàng. Cần tạo cơ chế điều tiết đồng bộ, vừa trao “con cá”, vừa trao “cần câu”, tức là Ngân hàng Nhà nước chủ động hỗ trợ thanh khoản trực tiếp cho các ngân hàng, kêu gọi điều tiết lẫn nhau, linh hoạt hạ tỉ lệ dự trữ bắt buộc, đồng thời nới lỏng hợp lý tỉ lệ dùng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn trong giai đoạn căng thẳng, xử phạt nghiêm khắc các hình thức liên kết ngầm với fintech.
Tiến sĩ Nguyễn Trí Hiếu - Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Phát triển thị trường tài chính và bất động sản toàn cầu - phân tích, trong khi các ngân hàng lớn có lợi thế về quy mô và tệp khách hàng trung thành để dễ dàng hạ lãi suất thì các ngân hàng nhỏ và vừa lại đối mặt với bài toán sống còn về thanh khoản. Nếu hạ lãi suất theo quy định chung, họ có nguy cơ bị hụt dòng tiền gửi. Để vừa tuân thủ lời kêu gọi hạ lãi suất, vừa giữ chân khách hàng, nhiều ngân hàng buộc phải vận dụng các sản phẩm chuyển đổi hoặc kênh huy động gián tiếp (qua ứng dụng số, hệ sinh thái đối tác).
Do đó, theo ông, nếu chỉ nhìn vào biểu lãi suất tiết kiệm được niêm yết tại quầy mà vội đánh giá lãi suất đang giảm là chưa toàn diện: “Lãi suất cho vay thấp chỉ khả thi khi ngân hàng huy động được nguồn vốn rẻ và kiểm soát được nợ xấu. Khi nợ xấu phát sinh, chi phí trích lập dự phòng tăng lên, ngân hàng buộc phải giữ biên độ lãi suất cao cho an toàn, khiến lãi vay chung khó giảm sâu”. Theo ông, thay vì kêu gọi giảm lãi suất chung chung, cơ quan quản lý cần đưa ra các chỉ tiêu định lượng cụ thể, như yêu cầu giảm biên độ lãi suất cho vay bao nhiêu phần trăm đối với từng lĩnh vực ưu tiên.
Vốn trong dân cần được mang ra đầu tư trực tiếp Nền kinh tế Việt Nam đang phụ thuộc quá mức vào dòng vốn tín dụng. Hiện tại, kênh ngân hàng đang gánh vác tới hơn 50% tổng cung vốn của toàn nền kinh tế, trong khi thị trường vốn và các định chế phi ngân hàng phát triển chưa tương xứng. Theo tính toán, đến cuối năm 2025, tỉ lệ tín dụng trên GDP của Việt Nam ước đạt 147%. Nếu dòng vốn tín dụng tiếp tục duy trì đà tăng trưởng 16 - 17% thì đến năm 2030, tỉ lệ tín dụng/GDP sẽ chạm ngưỡng 180 - 185%, là mức báo động, đưa Việt Nam vào nhóm các quốc gia có tỉ lệ đòn bẩy tài chính cao nhất thế giới. Hiện tại, tỉ lệ tiết kiệm của người dân Việt Nam tương đương 37% GDP, cao hơn tỉ lệ đầu tư khoảng 4%. Nguồn vốn khổng lồ trong dân cần được chuyển hóa thành dòng vốn đầu tư trực tiếp thay vì chỉ chảy vào ngân hàng. Để giảm bớt lượng vốn đổ dồn vào hệ thống ngân hàng, cần khơi thông dòng tiền bằng các giải pháp như khơi thông kênh cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp, thu hút nhà đầu tư nước ngoài chất lượng cao và thực hiện triệt để các giải pháp chống lãng phí trong đầu tư công. Tiến sĩ Nguyễn Trí Hiếu |
Nên cấp bách sửa Thông tư 22 Trong 2 tháng gần đây nhất, giá cả leo thang một cách đáng lo: tháng Ba tăng 4,65%, tháng Tư tăng 5,46%, đều vượt mục tiêu đề ra. Nếu không có giải pháp hạ nhiệt quyết liệt thì lạm phát bình quân cả năm rất dễ chạm hoặc vượt mốc 4,5%. Khi đó, việc giảm lãi suất càng thêm nan giải. Có một nguyên tắc là, lãi suất tiền gửi phải cao hơn lạm phát thì người dân mới gửi tiền. Vì vậy, từ cuối năm ngoái, lãi suất huy động vẫn phải neo cao. Dù theo chỉ đạo của Chính phủ và Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, các ngân hàng đã cố gắng giảm lãi suất nhưng mức giảm rất ít, chủ yếu là “gồng mình” chứ chưa thể giảm sâu. Tính thanh khoản của ngân hàng cũng đang gặp vấn đề. Từ ngày 1/5/2026, theo Thông tư số 22 của Bộ Tài chính, tiền gửi của Kho bạc Nhà nước không còn được tính vào nguồn vốn huy động của ngân hàng. Điều này khiến lượng vốn khả dụng của các ngân hàng lớn bị rút đi hơn 500.000 tỉ đồng, cộng thêm lạm phát tháng Tư tăng cao, thị trường đang chịu tác động kép. Bên cạnh đó, trong 4 tháng đầu năm 2026, Việt Nam nhập siêu 7,11 tỉ USD (trong khi cùng kỳ năm ngoái xuất siêu 4-5 tỉ USD). Nhập khẩu từ Trung Quốc tăng mạnh khiến tỉ giá USD/VNĐ chịu áp lực lớn. Nếu giảm lãi suất quá nhanh, tỉ giá lại càng căng thẳng. Vì vậy, giải pháp cấp bách nhất hiện nay là sửa đổi Thông tư 22. Làm được điều đó thì dòng vốn tín dụng sẽ được khơi thông, lãi suất mới có thể hạ nhiệt. Ông Phan Lê Thành Long - Chủ tịch sáng lập AFA Group |
Thanh Hoa