Có những ký ức về tết không nằm ở mâm cao cỗ đầy cũng chẳng gắn với áo mới hay bao lì xì đỏ thắm, mà nằm ở những thứ rất bình dị. Với tôi, hương vị tết sâu đậm nhất trong ký ức gắn liền với hình ảnh bà ngoại cùng nồi xà bần. Một món ăn bình dân, không công thức cầu kỳ mà đi theo tôi suốt cả một thời tuổi thơ.
Gia đình tôi sống cùng ông bà nội, cha lại là con trưởng nên năm nào đến mùng Năm, mùng Sáu tháng Giêng mới dắt díu nhau về ngoại đón tết. Lúc ấy, không khí tết đã nhạt dần, nhiều người đã quay trở lại với công việc, nhưng đối với mấy chị em tôi “còn mùng là còn tết”.
 |
| Mỗi mùa tết về, tôi vẫn thèm được ngồi chồm hổm bên bếp lửa ngày xưa, chờ nồi xà bần sôi lục bục. Ảnh minh hoạ do Al tạo |
Khi các bữa tiệc tết đã tàn, ngoại vẫn để dành 1 con gà mái, 1 con vịt xiêm và ít mứt dừa để đón mấy đứa cháu ngoại. Nhưng món mà chúng tôi thích ăn nhất là nồi xà bần do ngoại nấu có hương vị thật đặc biệt.
Tôi nhớ rõ cảnh ngồi chồm hổm bên bếp lửa liu riu, nhìn ngoại chậm rãi cho từng nguyên liệu vào chiếc nồi gang: một vài miếng thịt kho, mấy khoanh chả lụa đầu đòn, ít dưa cải muối chua có lẫn cà rốt, đu đủ, có khi có thêm da heo, măng khô…
Món ăn không cần đo lường hay nêm nếm cầu kỳ, ngoại chỉ cho thêm một chút gia vị cho vừa ăn. Khi nồi sôi lục bục, mùi thơm lan ra, quyện mùi khói bếp là lúc chúng tôi ngồi quanh chờ đợi. Có đứa sốt ruột hỏi: “Ngoại ơi, chừng nào ăn được?”, ngoại cười hiền: “Chờ chút cho nó thấm”. Có đứa thắc mắc: “Sao món này tên lạ vậy ạ?”, ngoại lại giải thích: “Do nấu đủ thứ nên mới gọi là xà bần là đó”. Cái tên gọi đó đã quen thuộc với chúng tôi qua nhiều mùa tết của tuổi thơ.
Món xà bần ăn với cơm trắng đôi khi thêm chén dưa kiệu hay củ hành muối mà ngon lạ lùng. Có lẽ món ăn ngon vì đủ vị nhưng có lẽ ngon hơn cả là vì được ăn cùng nhau trong căn bếp cũ ấm áp của nhà ngoại trong những ngày tết. Ngoại thường múc cho mỗi đứa một tô cơm nóng cùng xà bần rồi ngồi nhìn đàn cháu ăn ngon lành với ánh mắt dịu hiền yêu thương.
Giờ đây, mỗi mùa tết về, căn bếp nhà ngoại đã khác cùng bếp ga và nồi niêu sáng bóng. Mỗi lần về nhà ngoại, giữa mâm cơm ngày tết với nhiều món ăn đủ đầy, tôi bất chợt nhớ đến nồi xà bần của ngoại. Hương vị món ăn hoà quyện cùng mùi khói cay cùng giọng ngoại trò chuyện rì rầm bên bếp. Và khi ngoại không còn nữa, nồi xà bần cũng theo đó mà thành ký ức.
Mấy năm gần đây, khi đã có gia đình riêng, tôi cũng đôi lần thử nấu lại món xà bần. Vẫn những nguyên liệu quen thuộc ngày nào: chút thịt kho còn dư, ít rau trong tủ lạnh, vài miếng chả lụa... Tôi làm y như ký ức đã nhớ, cẩn thận nêm nếm như ngoại từng làm. Khi nồi xà bần sôi lên, mùi thơm lan ra, nhìn qua chẳng khác gì của ngoại nấu.
Nhưng khi ăn, tôi chợt nhận ra hương vị ấy không còn giống nồi xà bần năm xưa. Không phải vì thiếu nguyên liệu cũng không phải vì tay nghề vụng về mà bởi thiếu một điều rất khó gọi tên. Có lẽ thiếu mùi bếp củi, thiếu căn nhà cũ, thiếu tiếng cười con cháu và nhất là thiếu dáng ngoại lom khom bên bếp lửa nấu ăn bằng cả sự chắt chiu và thương yêu.
Mỗi mùa tết về, tôi vẫn thèm được ngồi chồm hổm bên bếp lửa ngày xưa, chờ nồi xà bần sôi lục bục và nghe ngoại nhắc khẽ: “Ăn từ từ kẻo nóng”. Tết đến như nhắc tôi về những điều đã đi qua, nhưng âm thầm để lại hơi ấm rất lâu trong ký ức giống như nồi xà bần của ngoại.
Kiều Thi