Không phải người tiêu dùng nào cũng dễ dãi. Khi đứng trước quầy thực phẩm, rất nhiều người vẫn có thói quen đọc nhãn, nhìn hạn sử dụng, so giá, thậm chí lướt nhanh vài đánh giá nếu mua online; Những sản phẩm rẻ bất thường, những cái tên quá lạ, họ cảnh giác, thường bỏ qua. Đó là cách tự bảo vệ tối thiểu mà bất kỳ ai cũng có thể làm được trong một thị trường ngày càng phức tạp.
Nhưng thú thật, với những thương hiệu lâu đời, đặc biệt là trong ngành thực phẩm, ai cũng thường bớt đi một, thậm chí nhiều nấc cảnh giác. Chưa kể, nếu đó là một thương hiệu lớn, được đánh giá là uy tín, và từng xuất hiện trong gian bếp mỗi nhà từ rất lâu, thì sự cảnh giác này gần như cực thấp.
120 tấn thịt heo nhiễm bệnh dịch tả châu Phi được phát hiện tại Công ty cổ phần Đồ hộp Hạ Long. Vụ việc này không chỉ ảnh hưởng đến sức khoẻ, tâm lý người tiêu dùng, đồng thời còn liên đới tới nhiều thương hiệu khác, lẫn các KOLs, đơn vị bán hàng khác - Ảnh: Halong Canfoco
Chính vì thế, khi thông tin lực lượng chức năng phát hiện hơn 120 tấn thịt lợn nhiễm bệnh được tập kết tại kho của Công ty Cổ phần Đồ hộp Hạ Long xuất hiện, người tiêu dùng không chỉ thấy lo mà còn thấy bối rối. Theo kết quả điều tra ban đầu, toàn bộ số thịt này đều dương tính với vi rút dịch tả lợn châu Phi, trong đó có khoảng 2 tấn đã được đưa vào chế biến thành sản phẩm đóng hộp trước khi bị phát hiện.
Đồ hộp Hạ Long không phải là một cái tên xa lạ. Với nhiều người, đó là thương hiệu gắn liền với khái niệm “đã tồn tại mấy chục năm”, “ăn từ thời ba mẹ”, “thứ có thể mua mà không cần suy nghĩ nhiều”. Vì vậy, dù doanh nghiệp sau đó lên tiếng giải trình rằng họ là bên tiếp nhận nguyên liệu dựa trên hồ sơ kiểm dịch hợp lệ, rằng lô nguyên liệu vi phạm không được đưa ra thị trường thì cảm giác bất an đối với nhiều người vẫn không dễ biến mất. Vậy nếu một thương hiệu lâu năm như vậy vẫn có thể gặp sự cố nghiêm trọng ở khâu nguyên liệu thì những lựa chọn quen thuộc khác của người tiêu dùng có thực sự an toàn?
Sự hoang mang ấy chưa kịp lắng xuống thì trên mạng xã hội, một lớp lo lắng mới lại xuất hiện. Nhiều người bắt đầu chia sẻ thông tin rằng đồ hộp Hạ Long không chỉ bán sản phẩm mang thương hiệu của mình mà còn tham gia cung cấp nguyên liệu hoặc sản xuất cho một số thương hiệu khác vốn được xem là uy tín trên thị trường.
Trong ngành thực phẩm, việc một doanh nghiệp tham gia nhiều vai trò khác nhau trong chuỗi sản xuất là điều không hiếm. Nhưng ở góc độ người tiêu dùng, điều đó đồng nghĩa với việc ranh giới giữa thương hiệu này và thương hiệu kia trở nên mờ hơn rất nhiều. Khi sự cố xảy ra, nỗi lo đồng thời ở việc mình đã mua gì lẫn việc những thứ mình từng tin tưởng khác thì sao?
Không ai trong số người tiêu dùng có khả năng kiểm nghiệm sản phẩm, càng không đủ thông tin để phân biệt lô nào an toàn, lô nào không. Giữa những thông báo, giải trình và tranh luận trái chiều, thứ duy nhất người tiêu dùng có thể làm là chọn phương án ít rủi ro nhất cho gia đình mình, kể cả khi điều đó đồng nghĩa với việc phải bỏ đi những sản phẩm còn nguyên.
Có người cho rằng phản ứng ấy là thái quá. Nhưng từ bên trong tâm lý người tiêu dùng, đó là phản xạ rất tự nhiên. Khi những tiêu chí quen thuộc để đặt niềm tin như tuổi đời thương hiệu, danh tiếng, hay sự phổ biến không còn mang lại cảm giác yên tâm, người ta buộc phải quay về với bản năng bảo vệ. Không ai muốn biến bữa ăn hàng ngày thành một phép thử may rủi.
Sự việc này cũng phản ánh một điều khá buồn bởi người tiêu dùng ngày nay gần như không còn điểm tựa rõ ràng để tin tưởng tuyệt đối. Không ai có đủ chuyên môn để đánh giá kỹ thuật, không có quyền tiếp cận chuỗi cung ứng, và cũng không thể tự mình xác minh mọi thông tin. Vậy thì liệu ai có thể đưa sản phẩm này cho người thân ăn mà không phải đắn đo?
Khi ngay cả một thương hiệu lớn, lâu đời cũng khiến cảm giác ấy lung lay, sự hoang mang là điều khó tránh khỏi. Nó ảnh hưởng đến một doanh nghiệp cụ thể, nhưng hơn như thế, nó còn làm người tiêu dùng trở nên dè dặt hơn với mọi lựa chọn trên bàn ăn. Và một khi niềm tin đã bị bào mòn đến mức người ta không còn biết dựa vào đâu để tin, việc khôi phục nó sẽ cần nhiều hơn những lời trấn an hay những bản giải trình đúng quy trình.
Có lẽ điều người tiêu dùng mong đợi nhất sau những sự cố như thế này là những hành động đủ thuyết phục để họ cảm thấy mình không đơn độc trong nỗi lo ấy. Bởi với thực phẩm, niềm tin không nằm trên bao bì hay trong thông cáo, nó nằm ở sự yên tâm khi sản phẩm được đặt lên bàn ăn của gia đình. Và một khi sự yên tâm đó không còn trọn vẹn, câu hỏi “chúng tôi còn biết tin vào đâu” sẽ vẫn còn ám ảnh rất lâu sau khi sự việc qua đi.