Tranh cãi quanh yêu cầu chứng chỉ chức danh nghề nghiệp của giáo viên

11/03/2021 - 10:30

PNO - Bộ Nội vụ cho rằng bỏ hay không bỏ chứng chỉ chức danh nghề nghiệp thì cũng phải lấy ý kiến giáo viên.

Thông tư 04 của Bộ GD-ĐT có hiệu lực từ 20/3/2021 đang được dư luận đặc biệt quan tâm. Bởi nội dung của Thông tư quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và bổ nhiệm, xếp lương viên chức giảng dạy tại các trường công lập (mầm non, tiểu học, THCS, THPT). Trong đó, yêu cầu về chứng chỉ chức danh nghề nghiệp đặc biệt nhận được nhiều sự chú ý hơn cả.

Xét theo quy định mới, chứng chỉ chức danh nghề nghiệp đối với giáo viên vô cùng quan trọng. Phải có loại chứng chỉ này, giáo viên mới có thể thăng lương, giữ hạng hay nâng ngạch.

Ảnh minh họa
Ảnh minh họa

Đa số giáo viên khi biết nội dung trên đều cho rằng, đây là quy định thừa, gây rườm rà, tốn kém về thời gian và tiền bạc. Đặc biệt, không giúp ích được cho công tác chuyên môn.

Bởi lẽ, để được đứng trên bục giảng, giáo viên phải mất 3 năm đối với hệ cao đẳng sư phạm, 4 năm với hệ đại học sư phạm. Điều này được đảm bảo bằng trình độ, năng lực chuyên môn nghiệp vụ trong giảng dạy và thể hiện trong các văn bằng của giáo viên, vậy hà cớ gì yêu cầu họ học thêm chứng chỉ chức danh nghề nghiệp?

Đó là chưa kể nội dung chương trình học bồi dưỡng tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp là những kiến thức giáo viên đã được học tại các trường đào tạo sư phạm. Nếu học lại những kiến thức này sẽ trùng lặp, không cần thiết còn mất thời gian khiến họ không thể tập trung toàn bộ tâm trí cho việc thiết kế bài giảng trên lớp.

Về chứng chỉ chức danh nghề nghiệp, ông Nguyễn Tư Long - Phó vụ trưởng Vụ Công chức - Viên chức (Bộ Nội vụ) cho biết một giáo viên mới ra trường có thể đi dạy ngay nếu đáp ứng đủ tiêu chuẩn nhưng chưa thể bổ nhiệm vào chức danh giáo viên hạng II hoặc hạng I vì chưa có đủ kinh nghiệm và các kỹ năng cần thiết khác như các giáo viên đã đi dạy 5, 7 năm.

Một số ngành nghề còn yêu cầu phải đáp ứng tiêu chuẩn về kinh nghiệm công tác tối thiểu, đạt chuẩn hạng nhất định trở lên thì mới được giữ các vị trí làm công tác lãnh đạo quản lý (tổ trưởng bộ môn, hiệu phó, hiệu trưởng), vì nếu không kinh qua kinh nghiệm hoạt động nghề nghiệp thì không thể quản lý được.

Tương tự như vậy, hiện nay chứng chỉ chức danh nghề nghiệp phản ánh trình độ, năng lực, kinh nghiệm của viên chức nói chung và đội ngũ giáo viên nói riêng. Còn chứng chỉ bồi dưỡng thì có thể là một loại chứng chỉ bổ sung phục vụ cho hoạt động nghề nghiệp.

“Vấn đề của các loại chứng chỉ bây giờ tôi hiểu đang có sự lẫn lộn, quá nhiều và nội dung trùng lắp, vì vậy mới gây bức xúc trong đội ngũ giáo viên gần đây.

Vì vậy, điều cần thiết bây giờ không phải là bỏ hay không bỏ một loại chứng chỉ nào đó mà cần phải rà soát lại hết tất cả những yêu cầu về điều kiện bắt buộc của từng loại chứng chỉ và đặc biệt là nội dung, chương trình của các loại chứng chỉ xem có xuất phát từ đúng yêu cầu của tiêu chuẩn, vị trí việc làm hay không để tránh lãng phí, tốn kém cho xã hội.

Bỏ hay không bỏ chứng chỉ chức danh nghề nghiệp thì Bộ Nội vụ không một mình quyết hết được. Hơn thế, hiện nay Bộ GD-ĐT là cơ quan quản lý Nhà nước chuyên ngành, nên Bộ phải rà soát lại và phải có chính kiến về việc bỏ hay không bỏ, có cần hay không cần chứng chỉ này, lý do của việc bỏ hay giữ là gì và lấy ý kiến rộng rãi của những người trực tiếp chịu tác động thì hợp lý hơn”, ông Long cho hay.

Từ ngày 20/3, Thông tư 04 của Bộ GD-ĐT có hiệu lực, một trong những quy định mới được nhiều người quan tâm là công chức, viên chức phải có chứng chỉ chức danh nghề nghiệp.

Vậy chứng chỉ chức danh nghề nghiệp là gì?

Khoản 1 Điều 8 Luật Viên chức định nghĩa:

Chức danh nghề nghiệp là tên gọi thể hiện trình độ và năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của viên chức trong từng lĩnh vực nghề nghiệp.

Đồng thời, việc tuyển dụng viên chức phải căn cứ vào nhu cầu công việc, vị trí việc làm, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và quỹ tiền lương của đơn vị sự nghiệp công lập.

Trong đó, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức bao gồm các nội dung nêu tại khoản 1 Điều 28 Nghị định 115/2020:

- Tên của chức danh nghề nghiệp;

- Nhiệm vụ bao gồm những công việc cụ thể phải thực hiện có mức độ phức tạp phù hợp với hạng chức danh nghề nghiệp;

- Tiêu chuẩn về đạo đức nghề nghiệp;

- Tiêu chuẩn về trình độ đào tạo, bồi dưỡng;

- Tiêu chuẩn về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ.

Theo quy định tại khoản 4 Điều 17 Nghị định 101/2017/NĐ-CP, chương trình, tài liệu bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức có thời gian thực hiện tối thiểu là 06 tuần và tối đa là 08 tuần.

Cũng giống như chứng chỉ tin học, ngoại ngữ, chứng chỉ chức danh nghề nghiệp được coi là “giấy tờ” để chứng minh viên chức có đủ trình độ, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu của từng lĩnh vực nghề nghiệp.

Do đó, với giáo viên, chứng chỉ chức danh nghề nghiệp là chứng chỉ được cấp cho giáo viên đã tham gia khóa bồi dưỡng theo đúng tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp.

Đại Minh

 
Array ( [news_id] => 1429174 [news_title] => Tranh cãi quanh yêu cầu chứng chỉ chức danh nghề nghiệp của giáo viên [news_title_seo] => Tranh cãi quanh yêu cầu chứng chỉ chức danh nghề nghiệp của giáo viên [news_supertitle] => [news_picture] => giao-vien-co-bat-buoc-phai-co-chung-_1615273031.jpg [news_subcontent] => Bộ Nội vụ cho rằng bỏ hay không bỏ chứng chỉ chức danh nghề nghiệp thì cũng cần phải lấy ý kiến giáo viên. [news_subcontent_seo] => Bộ Nội vụ cho rằng bỏ hay không bỏ chứng chỉ chức danh nghề nghiệp thì cũng cần phải lấy ý kiến giáo viên. [news_headline] => Bộ Nội vụ cho rằng bỏ hay không bỏ chứng chỉ chức danh nghề nghiệp thì cũng phải lấy ý kiến giáo viên. [news_content] =>

Thông tư 04 của Bộ GD-ĐT có hiệu lực từ 20/3/2021 đang được dư luận đặc biệt quan tâm. Bởi nội dung của Thông tư quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và bổ nhiệm, xếp lương viên chức giảng dạy tại các trường công lập (mầm non, tiểu học, THCS, THPT). Trong đó, yêu cầu về chứng chỉ chức danh nghề nghiệp đặc biệt nhận được nhiều sự chú ý hơn cả.

Xét theo quy định mới, chứng chỉ chức danh nghề nghiệp đối với giáo viên vô cùng quan trọng. Phải có loại chứng chỉ này, giáo viên mới có thể thăng lương, giữ hạng hay nâng ngạch.

Ảnh minh họa
Ảnh minh họa

Đa số giáo viên khi biết nội dung trên đều cho rằng, đây là quy định thừa, gây rườm rà, tốn kém về thời gian và tiền bạc. Đặc biệt, không giúp ích được cho công tác chuyên môn.

Bởi lẽ, để được đứng trên bục giảng, giáo viên phải mất 3 năm đối với hệ cao đẳng sư phạm, 4 năm với hệ đại học sư phạm. Điều này được đảm bảo bằng trình độ, năng lực chuyên môn nghiệp vụ trong giảng dạy và thể hiện trong các văn bằng của giáo viên, vậy hà cớ gì yêu cầu họ học thêm chứng chỉ chức danh nghề nghiệp?

Đó là chưa kể nội dung chương trình học bồi dưỡng tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp là những kiến thức giáo viên đã được học tại các trường đào tạo sư phạm. Nếu học lại những kiến thức này sẽ trùng lặp, không cần thiết còn mất thời gian khiến họ không thể tập trung toàn bộ tâm trí cho việc thiết kế bài giảng trên lớp.

Về chứng chỉ chức danh nghề nghiệp, ông Nguyễn Tư Long - Phó vụ trưởng Vụ Công chức - Viên chức (Bộ Nội vụ) cho biết một giáo viên mới ra trường có thể đi dạy ngay nếu đáp ứng đủ tiêu chuẩn nhưng chưa thể bổ nhiệm vào chức danh giáo viên hạng II hoặc hạng I vì chưa có đủ kinh nghiệm và các kỹ năng cần thiết khác như các giáo viên đã đi dạy 5, 7 năm.

Một số ngành nghề còn yêu cầu phải đáp ứng tiêu chuẩn về kinh nghiệm công tác tối thiểu, đạt chuẩn hạng nhất định trở lên thì mới được giữ các vị trí làm công tác lãnh đạo quản lý (tổ trưởng bộ môn, hiệu phó, hiệu trưởng), vì nếu không kinh qua kinh nghiệm hoạt động nghề nghiệp thì không thể quản lý được.

Tương tự như vậy, hiện nay chứng chỉ chức danh nghề nghiệp phản ánh trình độ, năng lực, kinh nghiệm của viên chức nói chung và đội ngũ giáo viên nói riêng. Còn chứng chỉ bồi dưỡng thì có thể là một loại chứng chỉ bổ sung phục vụ cho hoạt động nghề nghiệp.

“Vấn đề của các loại chứng chỉ bây giờ tôi hiểu đang có sự lẫn lộn, quá nhiều và nội dung trùng lắp, vì vậy mới gây bức xúc trong đội ngũ giáo viên gần đây.

Vì vậy, điều cần thiết bây giờ không phải là bỏ hay không bỏ một loại chứng chỉ nào đó mà cần phải rà soát lại hết tất cả những yêu cầu về điều kiện bắt buộc của từng loại chứng chỉ và đặc biệt là nội dung, chương trình của các loại chứng chỉ xem có xuất phát từ đúng yêu cầu của tiêu chuẩn, vị trí việc làm hay không để tránh lãng phí, tốn kém cho xã hội.

Bỏ hay không bỏ chứng chỉ chức danh nghề nghiệp thì Bộ Nội vụ không một mình quyết hết được. Hơn thế, hiện nay Bộ GD-ĐT là cơ quan quản lý Nhà nước chuyên ngành, nên Bộ phải rà soát lại và phải có chính kiến về việc bỏ hay không bỏ, có cần hay không cần chứng chỉ này, lý do của việc bỏ hay giữ là gì và lấy ý kiến rộng rãi của những người trực tiếp chịu tác động thì hợp lý hơn”, ông Long cho hay.

Từ ngày 20/3, Thông tư 04 của Bộ GD-ĐT có hiệu lực, một trong những quy định mới được nhiều người quan tâm là công chức, viên chức phải có chứng chỉ chức danh nghề nghiệp.

Vậy chứng chỉ chức danh nghề nghiệp là gì?

Khoản 1 Điều 8 Luật Viên chức định nghĩa:

Chức danh nghề nghiệp là tên gọi thể hiện trình độ và năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của viên chức trong từng lĩnh vực nghề nghiệp.

Đồng thời, việc tuyển dụng viên chức phải căn cứ vào nhu cầu công việc, vị trí việc làm, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và quỹ tiền lương của đơn vị sự nghiệp công lập.

Trong đó, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức bao gồm các nội dung nêu tại khoản 1 Điều 28 Nghị định 115/2020:

- Tên của chức danh nghề nghiệp;

- Nhiệm vụ bao gồm những công việc cụ thể phải thực hiện có mức độ phức tạp phù hợp với hạng chức danh nghề nghiệp;

- Tiêu chuẩn về đạo đức nghề nghiệp;

- Tiêu chuẩn về trình độ đào tạo, bồi dưỡng;

- Tiêu chuẩn về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ.

Theo quy định tại khoản 4 Điều 17 Nghị định 101/2017/NĐ-CP, chương trình, tài liệu bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức có thời gian thực hiện tối thiểu là 06 tuần và tối đa là 08 tuần.

Cũng giống như chứng chỉ tin học, ngoại ngữ, chứng chỉ chức danh nghề nghiệp được coi là “giấy tờ” để chứng minh viên chức có đủ trình độ, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu của từng lĩnh vực nghề nghiệp.

Do đó, với giáo viên, chứng chỉ chức danh nghề nghiệp là chứng chỉ được cấp cho giáo viên đã tham gia khóa bồi dưỡng theo đúng tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp.

Đại Minh

[news_source] => [news_tag] => chức danh nghề nghiệp,chứng chỉ chức danh nghề nghiệp,giáo viên,Thông tư 04 của Bộ GD-ĐT,Luật Viên chức [news_status] => 6 [news_createdate] => 2021-03-09 13:52:21 [news_date] => [news_publicdate] => 2021-03-11 10:30:27 [news_relate_news] => 1418899,1409894,1425596,1418383, [newcol_id] => 0 [newevent_id] => 0 [newcate_code1] => giao-duc [newcate_code2] => su-kien-van-de [news_copyright] => 0 [news_url] => [news_urlid] => [onevent_id] => 0 [survey_id] => [news_lang] => vi [news_link] => [news_iscomment] => 1 [news_type] => 0 [news_numview] => 1432 [news_is_not_ads] => [news_is_not_follow] => [news_is_not_preroll] => [news_link_public] => https://www.phunuonline.com.vn/tranh-cai-quanh-yeu-cau-chung-chi-chuc-danh-nghe-nghiep-cua-giao-vien-a1429174.html [tag] => chức danh nghề nghiệpchứng chỉ chức danh nghề nghiệpgiáo viênThông tư 04 của Bộ GD ĐTLuật Viên chức [daynews2] => 2021-03-11 10:30 [daynews] => 11/03/2021 - 10:30 )
news_is_not_ads=
TIN MỚI