Các nước trên thế giới đã đầu tư mạnh mẽ vào công nghệ sinh học, mang lại hiệu quả và lợi nhuận cao. Ở Việt Nam, lĩnh vực này có tiềm năng rất lớn nhưng chưa được đầu tư xứng tầm để bứt phá.
Đó là chia sẻ của các chuyên gia, nhà quản lý tại hội thảo khoa học quốc gia “Chiến lược phát triển công nghệ sinh học giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045” do Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương phối hợp với Đại học Quốc gia TPHCM tổ chức mới đây.
Có nhân lực nhưng chưa được đầu tư tương xứng
Phó giáo sư, tiến sĩ Nguyễn Phú Hùng (Vụ Khoa học, Kỹ thuật và Công nghệ thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ) nhận định, công nghệ sinh học là lĩnh vực có tác động lớn, ứng dụng trong nhiều lĩnh vực như nông nghiệp, công nghiệp chế biến, y dược, bảo vệ môi trường, an ninh quốc phòng… Các nước phát triển đã đầu tư mạnh vào công nghệ sinh học, mang lại hiệu quả và lợi nhuận cao. Tuy nhiên, Việt Nam còn thiếu cơ chế, chính sách đặc thù cho lĩnh vực này.
 |
| Sinh viên ngành công nghệ sinh học Trường đại học Quốc tế (Đại học Quốc gia TPHCM) thực hành tại phòng thí nghiệm |
Đồng quan điểm, giáo sư, tiến sĩ Nguyễn Thị Thanh Mai - Phó giám đốc Đại học Quốc gia TPHCM - thông tin, đầu tư cho lĩnh vực này hiện chưa xứng với tiềm năng. Thị trường công nghệ sinh học toàn cầu năm 2025 ước tính đạt khoảng 1,8 ngàn tỉ USD và dự báo tăng gấp đôi vào năm 2030. Nhưng thị trường này tại Việt Nam hiện chỉ khoảng 1,5 tỉ USD, chưa đến 0,1% thị trường thế giới.
Trong khu vực châu Á, ước tính Trung Quốc gấp Việt Nam khoảng 100 lần, Nhật Bản khoảng 55 lần, Hàn Quốc là 28 lần và Ấn Độ khoảng 25 lần. “Chúng tôi rất trăn trở với những con số này. Đại học Quốc gia TPHCM có nguồn lực dồi dào về trí tuệ nhân tạo và công nghệ sinh học với hơn 250 chuyên gia, nhà khoa học. Tuy nhiên, việc chuyển giao sản phẩm thương mại còn rất hạn chế” - bà nói.
Bà nêu thực trạng, các đơn vị phải tự đề xuất, tự tìm kinh phí. Đặc biệt, thiếu đặt hàng từ Nhà nước và doanh nghiệp; hạ tầng kỹ thuật và dữ liệu quốc gia còn thiếu; khó thu hút, giữ chân nhân lực chất lượng cao. Ngoài ra, việc thiếu cơ chế quản lý nghiên cứu, quản lý kinh phí mang tính hành chính - kế toán, thiếu linh hoạt cho sáng tạo. Nghiên cứu cần đổi mới liên tục và phải chấp nhận rủi ro cao trong khi cơ chế chưa hỗ trợ vấn đề này cũng là những thách thức lớn.
Trong khi đó, việc thương mại hóa sản phẩm khoa học công nghệ cũng gặp khó khăn khi thủ tục cấp phép lưu hành khó và kéo dài (lĩnh vực y tế); tư duy chuộng sản phẩm ngoại nên doanh nghiệp trong nước không mặn mà với nghiên cứu trong nước. Rủi ro khi nghiên cứu cao khiến doanh nghiệp dễ bỏ cuộc…
Phó giáo sư, tiến sĩ Trần Trung Tính - Hiệu trưởng Đại học Cần Thơ - chia sẻ, đơn vị có nguồn lực lớn về đào tạo, nghiên cứu công nghệ sinh học trong nông nghiệp, với 21 giáo sư, 96 phó giáo sư và 148 tiến sĩ. Thu hút được khoảng 12.000 người học các ngành liên quan lĩnh vực công nghệ sinh học và có tới 90 phòng thí nghiệm liên quan, sở hữu ngân hàng lưu giữ trên 3.000 giống lúa… Tuy nhiên, theo ông, hiện chưa có chính sách đầu tư đặc thù cho lĩnh vực này, nên các đơn vị phải tự vận động, đầu tư, do đó không đủ nguồn lực để phát triển hết tiềm năng.
Cần hoàn thiện cơ chế, chính sách đặc thù
Phó giáo sư, tiến sĩ Phí Quyết Tiến - Viện trưởng Viện Sinh học (Viện hàn lâm Khoa học công nghệ Việt Nam) - nhấn mạnh, muốn phát triển lĩnh vực này thì cần đào tạo gắn với nghiên cứu chuẩn quốc tế và liên ngành.
Để triển khai Nghị quyết 36-NQ/TW ngày 30/1/2023 của Bộ Chính trị về phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ phát triển bền vững đất nước trong tình hình mới, giai đoạn 2026-2030, cần đẩy mạnh nghiên cứu cơ bản, nâng cao năng lực nghiên cứu và hạ tầng khoa học. Đồng thời đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học trẻ, thu hút chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài; mở rộng các nhóm nghiên cứu mạnh và hợp tác doanh nghiệp đào tạo theo nhu cầu…
Thượng tá, tiến sĩ Đặng Bách Tài - Viện trưởng Viện Hóa và Sinh học nghiệp vụ (Cục Công nghiệp an ninh thuộc Bộ Công an) - cũng đánh giá, công nghệ sinh học đóng vai trò quan trọng trong phát triển an ninh, an toàn thế giới như phát hiện các chất độc, độc tố, chất cấm, cải thiện chăm sóc y tế, dinh dưỡng, phát triển vắc xin… Do đó, cần đẩy mạnh hợp tác với các viện nghiên cứu, đại học trong và ngoài nước để làm chủ công nghệ, phát triển sản phẩm và hợp tác với doanh nghiệp để thương mại hóa sản phẩm.
Bà Nguyễn Thị Thanh Mai cho hay, định hướng của Đại học Quốc gia TPHCM là hình thành mô hình: “nhà khoa học - nhà trường - nhà doanh nghiệp”. Trong đó, nhà khoa học cần đề xuất định hướng sản phẩm dựa trên công nghệ lõi. Nhà trường tổng hợp, quy hoạch theo các lĩnh vực ứng dụng. Còn doanh nghiệp đánh giá tiềm năng thị trường và đặt hàng nghiên cứu. “Chúng tôi kỳ vọng các bên liên quan sẽ cùng nhau hợp tác, tập trung nguồn lực để sánh kịp với các nước. Nếu không tăng tốc, chúng ta sẽ lỡ nhịp với sự tăng trưởng thần tốc của lĩnh vực công nghệ sinh học” - bà nhấn mạnh.
Để tăng tốc, bà đề xuất xây dựng và nâng cấp phòng thí nghiệm, trung tâm nghiên cứu chuẩn; đầu tư trang thiết bị nghiên cứu; phát triển hạ tầng và khu thử nghiệm và có nguồn lực bổ trợ. Các nhà quản lý cũng cần tìm ra giải pháp đột phá, cơ hội hợp tác và tháo gỡ nhanh chóng về mặt cơ chế, để tạo ra các sản phẩm ứng dụng công nghệ sinh học chất lượng cao, đóng góp chủ đạo vào mục tiêu phát triển đất nước.
Xây dựng đội ngũ nghiên cứu trình độ quốc tế Ông Nguyễn Phú Hùng thông tin, Bộ GD-ĐT đã trình và được Thủ tướng phê duyệt đề án đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ phát triển công nghệ cao giai đoạn 2025-2030 và định hướng tới năm 2045. Mục tiêu là đến năm 2030, Việt Nam có 5.000 sinh viên tốt nghiệp mỗi năm các ngành trong lĩnh vực công nghệ sinh học. Đến năm 2030-2035 con số này tăng lên 8.000 mỗi năm, trong đó có từ 20% nhân lực đạt trình độ kỹ sư, thạc sĩ, tiến sĩ. Bộ Khoa học và Công nghệ cũng đã xây dựng và trình Thủ tướng đề án hỗ trợ đầu tư nâng cao năng lực nghiên cứu, làm chủ công nghệ lõi, ươm tạo doanh nghiệp nghiên cứu, sản xuất sản phẩm công nghệ sinh học quy mô công nghiệp. Thông qua các chương trình đào tạo và hợp tác với Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc… xây dựng đội ngũ nghiên cứu công nghệ sinh học, nhà khoa học đạt trình độ khu vực và quốc tế. Ông kiến nghị Chính phủ hoàn thiện cơ chế, chính sách đặc thù và tạo môi trường thuận lợi cho công nghệ sinh học; tăng cường đầu tư ngân sách. Các bộ, ngành, địa phương cũng tăng cường đầu tư và phát triển tiềm lực khoa học công nghệ, hiện đại hóa phòng thí nghiệm, thu hút chuyên gia, nhân lực chất lượng cao… |
Nguyễn Loan