Ở đây người Việt khoảng vài ngàn người, nhưng sống rải rác, xen lẫn với người bản xứ chứ không tập trung nhiều như ở Boston hay California, nên sự giao tiếp cùng “bà con xóm giềng” có rất nhiều hạn chế. Cứ nhà ai nấy ở, cửa đóng im lìm quanh năm suốt tháng. Người lớn, trẻ con, ngoài giờ đi làm, đi học hay cần thiết phải ra ngoài, về đến nhà thì chỉ sinh hoạt “nội bộ” gia đình, xem ti vi, đọc sách hoặc chúi mũi vào điện thoại, iPad, laptop…
Gọi là “Cánh đồng mùa xuân” song nơi đây 1 năm chỉ có 2 mùa: nóng và lạnh. Mùa nóng khoảng từ tháng Tư đến tháng Mười, thời tiết mát, dễ chịu; còn mùa lạnh thì vào khoảng tháng Mười một cho đến gần hết tháng Ba với cái lạnh nhiều khi xuống dưới âm độ, xung quanh tuyết trắng xóa, rất khó chịu cho người già, đặc biệt là những người có bệnh về phổi hay xương, khớp… Cũng không hiểu vì sao, những tháng vào mùa băng giá lại là những tháng có rất nhiều lễ hội lớn của nước Mỹ, như Halloween, lễ Tạ ơn, Black Friday, rồi đến Giáng sinh, năm mới… càng khiến những người gốc Việt xôn xao, bồi hồi một nỗi nhớ quê, nhớ nguồn cội đến da diết.
Càng đến những ngày cuối năm, cái lạnh dường như cũng tăng dần cùng nỗi nhớ và sự trống trải của những ngày nghỉ lễ. Không phải làm tăng ca, con cháu được nghỉ học gần nửa tháng, thôi thì cả nhà tự tổ chức nấu nướng, chế biến những món ăn quê nhà, bù cho những ngày vội vã ăn “cơm Tây”, húp nước xúp hoặc thịt nguội… ngán ngẩm. Mấy đứa lớn trổ tài nấu bánh canh, bún riêu, phở, rồi lẩu, thịt kho tàu, canh khổ qua nhồi thịt và chắc chắn không quên nồi kho quẹt đậm đà - hương vị của những năm kém, khổ. Buổi tối thì đi mua sắm, viếng nhà thờ, thăm thú bà con người Việt hay tổ chức văn nghệ, hát karaoke cùng lai rai chút bia, rượu tìm hơi ấm. Những ngày hôm sau tết dương lịch, cũng ăn mặc chỉnh tề, ra vô gặp lối xóm bản xứ, hân hoan, tươi cười chào “Hello! happy new year…” rồi về nhà… lướt web, lướt Facebook “tám chuyện” với quê nhà.
Tết dương lịch, người người, xe cộ ì xèo cùng nhau đi ngắm cảnh, gặp hôm hưng hửng nắng, con cháu bàn nhau đi New York, ghé thăm tượng Nữ thần Tự do và cảng New York nổi tiếng để… xả tress.
Tượng Nữ thần Tự do thì mấy đứa con đã ghé nhiều lần và cũng thấy nhiều trên tranh ảnh nên chỉ tranh thủ lướt qua, rồi gia đình cùng nhau lái xe qua cảng. Vừa bước xuống xe, ra khỏi Parking, nhìn qua bên kia đường đã thấy một vùng trời nước xanh xanh, mênh mông. Gió thổi mang theo hơi nước, man mát lạnh, người người nhộn nhịp nói cười, vui vẻ. Bỗng lũ cháu nhỏ đồng thanh reo vang: “Oh! my god! Xe ngựa, xe ngựa… ngoại ơi!”. Nhìn xuống phía dưới đường trước mặt, đã thấy một hàng 4, 5 chiếc xe ngựa, mà ngày xưa ở Việt Nam hay gọi là xe thổ mộ, đang chở những du khách “nhong nhong” ngoạn cảnh. Những con ngựa giống châu Âu, cao to, đẹp mã, bờm được tết hoa, đầu cắm một túm lông vũ oai vệ, xung quanh cổ là một tràng lục lạc bằng đồng màu vàng hoặc bằng inox trắng, cùng rung lên theo nhịp vó câu lộc cộc nghe thật thích. Xe ngựa thì được đóng bằng loại gỗ tốt, chạm trổ cầu kỳ và lên nước bóng loáng, trông giống như những chiếc xe ngựa của “cung vua, phủ chúa” ngày xưa. Mỗi xe chỉ chở khoảng vài người nên những chú ngựa kéo xe dù đang thong thả bước hay sải nước kiệu, trông dáng vẻ cũng thật nhàn nhã, dễ chịu. Nhìn, chợt nhớ những chiếc xe thổ mộ năm xưa ở quê nhà. Người già vốn thế, dễ hồi tưởng và dễ mủi lòng. Đang chìm đắm vào dòng suy tưởng thì lại nghe đám trẻ hét lên: “Tới mua vé đi xe ngựa ba mẹ ơi!”. Ừ thì đi, cho biết mùi “lên xe, xuống ngựa” ở quê người.
Những chiếc xe ngựa như của năm xưa, xa lăng lắc ở quê nhà, làm nhớ những phiên chợ tết. Thuở ấy, nhà tôi ở cách xa khu chợ, phương tiện đi lại cá nhân chỉ có xe đạp, sang hơn một chút là xe máy. Xe chuyên chở công cộng chủ yếu là xe thổ mộ và xe lam 3 bánh. Sát cạnh nhà tôi là nhà bác Năm xà ích (người đánh xe ngựa), mà đám nhóc tụi tôi lúc đó hay gọi là “tài xế lái xe ngựa”, tuổi chừng ngoài 50, rất tốt bụng và vui tính. Bác Năm xà ích nuôi một cặp ngựa cỏ, loại ngựa có thân hình nhỏ, thon gọn nhưng có sức bền, để thay phiên nhau kéo xe. Thùng xe ngựa được đóng bằng loại gỗ bằng lăng, vừa nhẹ vừa chắc chắn, phủ bằng tấm vải ka-ki xanh che mưa nắng. Khi đông khách, xe có thể nhét đến hơn chục người - ngoài ngồi bệt xuống giữa thùng xe còn có thể… đeo toòng teng phía sau thùng xe 2 đến 3 người!
Ngựa kéo xe, chăm sóc cũng không khó khăn lắm. Chiều chiều, bác Năm hay dẫn 2 con ngựa ra suối để tắm, thức ăn chủ yếu là cỏ xanh hoặc cỏ khô, đôi khi trộn với nước muối. Khi ngựa quá mệt hoặc cần bồi bổ, có thể cho ngựa ăn cám gạo hay bắp pha với nước mật đường. Thỉnh thoảng bác cũng cho ngựa ăn cháo nấu với yến mạch hoặc các loại đậu khác. Chừng mười ngày nửa tháng, bác Năm lại dắt ngựa đến nhà chú thợ rèn ở cuối xóm để đóng móng mới, coi như thay giày, dép cho ngựa chạy khỏi đau chân.
Ngựa thường hay ngủ đứng, nên hễ con nào muốn nằm bẹp xuống là dấu hiệu đã bệnh, cần phải đi bác sĩ thú y. Ngựa khi được “máng” vào 2 càng của thùng xe kéo, thường có 1 tấm che 2 bên mắt để ngựa không thể thấy 2 bên đường mà chỉ tập trung chạy vào hướng trước mặt, đồng thời tránh cho ngựa nhìn thấy xe cộ 2 bên mà hoảng sợ, né tránh hoặc nhảy lồng lên, nguy hiểm cho người điều khiển và người ngồi trên thùng xe. Nhà bác Năm xà ích chỉ có vợ chồng già, cô con gái là giáo viên tiểu học ở thị trấn nên trọ lại, cuối tuần mới về với cha mẹ. Việc ăn uống cho ngựa bác phải thuê người giúp, nhất là cắt cỏ tươi cho ngựa ăn. Tôi là một trong những người hay đi cắt cỏ phụ bác nên được bác ưu tiên… miễn phí, không phải trả tiền khi có việc phải đi xe ngựa của bác.
Năm đó, gần tết, vườn nhà thu hoạch được một số cải, xà lách, bầu, bí… Mẹ muốn đem ra chợ bán để có thêm tiền mua cho anh em chúng tôi bộ đồ mới, cùng sắm sửa một số đồ cần thiết. Tờ mờ sáng ngày cuối tháng Chạp, mẹ kêu tôi dậy, 2 mẹ con chất rau trái vào 2 cái thúng, lồng trong đôi quang gióng quen thuộc mà mẹ hay dùng để gánh nước tưới rau hằng ngày, mang ra chợ bán. Lúc này, bên nhà bác Năm cũng đã lục đục sửa soạn, tiếng vó ngựa gõ cồm cộp trên nền xi măng, thỉnh thoảng con ngựa hí lên vài tiếng như thúc giục. Bác Năm nhanh kéo thùng xe ra ngoài cổng, tôi và mẹ là người khách đầu tiên lên xe. Bác kéo nhẹ dây cương, con ngựa như hiểu ý chủ, thong thả rảo bước ra đường lộ, lúc này vẫn còn vắng bóng xe cộ qua lại, làn sương sớm mờ đục, không khí lành lạnh. Thỉnh thoảng, bên vệ đường có người đi chợ sớm, đưa tay vẫy gọi: “Xe ngựa! Ngựa…”. Mỗi khi ấy, bác Năm miệng hô lớn “Hê, hê…”, 2 tay kéo nhẹ dây cương cho ngựa dừng lại. Sau khi khách trèo lên, ngồi vào hàng ghế, bác sẽ 2 tay nhịp nhẹ dây cương, con ngựa lại kéo chiếc xe từ từ lăn bánh. Muốn ngựa chạy nhanh, bác vỗ nhẹ vào hông hay tróc nhẹ chiếc roi vào mông nó, con ngựa liền sải chân nước kiệu và kéo chiếc xe băng băng trên con đường nhựa.
Chiếc xe ngựa đến nơi cũng vừa lúc ánh nắng mặt trời le lói ánh hồng trên những tàng cây đầu chợ. Người mua, kẻ bán qua lại ồn ào và đông đúc. Mẹ tôi kiếm chỗ bày mớ rau trái, còn tôi lân la đi ngắm nghía các quầy hàng bên trong. Chợ thị trấn nhỏ nhưng cũng bày bán không thiếu mặt hàng nào, và sắp xếp ngăn nắp. Chỗ bán thịt, cá riêng biệt với các mặt hàng rau, trái. Tôi thích đi ngắm các quầy hàng “chạp pô”, đa số của người Hoa, và người Ấn Độ bán vải vóc, áo quần. Đặc biệt, quầy hàng của người Hoa những ngày cận tết bán nhiều “hàng mã” như giấy tiền, vàng bạc, quần áo… để người ta mua về đốt cúng ông bà và đưa rước ông Táo. Hấp dẫn tôi nhất là những hàng bánh mứt, “thèo lèo, cứt chuột” cùng những bao để đựng tiền lì xì màu đỏ, in hoa văn vàng chói hay hình ông Thần tài. Bên cạnh là những phong pháo, có cả pháo chuột cho con nít đốt mà không sợ nổ tét tay. Từng có lần tôi nhặt một viên pháo đang cháy dở cho vào túi và bị nổ cháy quần, phỏng chân…
Đi hết một vòng chợ tết, thỉnh thoảng cũng táy máy tay, nhón… trộm một cục kẹo hay miếng mứt dừa bày “quảng cáo” đưa vào miệng nhai, khoái chí. Rồi tôi lại thơ thẩn ra bãi xe ngựa, nơi bác Năm cho ngựa nghỉ ngơi chờ khách tan chợ về. Đã gần trưa, các “tài xế lái xe ngựa” túm tụm quanh bàn cờ tướng, với những ván cờ được “cá độ” ly cà phê, bữa cơm trưa đang hồi gay cấn. Gần đó, những con ngựa đang chụm đầu nhai cỏ, con ngựa của bác Năm chừng như nhận ra tôi, vươn cổ lên hí, gõ vó cồm cộp xuống mặt đất.
Phải gần đến 2, 3 giờ chiều mẹ tôi mới bán hết hàng và mua sắm đồ ăn, thức uống cho 3 ngày tết. Tôi ôm bọc đựng bộ đồ mới mà mẹ vừa mua cho, mừng rơn, giữ khư khư trước ngực. Lần này 2 mẹ con tôi là người lên xe cuối cùng, và vì là khách quen nên bác Năm xà ích không ngại đợi. Chiếc xe ngựa buổi sáng trống trơn, nhẹ tưng thì giờ đây đã chất hơn chục người với hàng hóa đầy trên mui, thùng xe và treo lủng lẳng ở cuối xe. Khi mẹ tôi chen vào ngồi bệt xuống sàn và bác Năm máng đôi quang gióng của mẹ vào xe, tôi có cảm giác chiếc xe như muốn… cất đầu lên vì đuôi xe quá nặng. Tôi phải lên phía trước, ngồi phía mép trái của càng xe, để giữ thăng bằng cho chiếc thùng xe ngựa.
“Đâu đó ngồi yên, vịn chắc, ngựa chạy heng?” - bác Năm hô to và nhịp nhịp dây cương để ngựa khởi động. Con ngựa không chạy ngay như lúc sáng mà đứng yên, vó trước gõ liên tục xuống mặt đường nhựa, ngửa cổ hí vang như muốn nói: “Nặng! Nặng…”. Bác Năm rướn người lên trước, tay vỗ mạnh vào mông ngựa, miệng vỗ về: “Đi con! Đi con!”, chiếc xe mới nặng nhọc chuyển bánh sau 1 tiếng phì dài của con ngựa.
Buổi chiều, nắng vàng rải nhẹ, hơi chói, tiếng vó câu lóc cóc trên đường dài, tiếng cười nói, tiếng khen chê, mắc rẻ những món hàng mua về của các bà, các cô râm ran trên xe. Vài chiếc xe đò cùng chiều, lướt qua, khói đen mù mịt. “Chuẩn bị lên… dốc”, bác Năm bỗng la lớn. Mọi người im bặt, nhìn về phía trước. Đoạn đường từ chợ về nhà, ước chừng trên 3 cây số, đây là đoạn dốc hơi cao. Chiếc xe lắc lư, chậm nhịp, con ngựa thở phì phò mệt nhọc và nó bỗng khựng lại, chân trước như khập khiễng. Bác Năm “họ, họ…” rồi nhảy xuống, nắm dây cương, kéo mũi con ngựa, 2 anh thanh niên đang phía sau thùng xe ngựa cũng nhảy xuống. Mấy bà ngơ ngác nhìn nhau, từng người lục tục nhảy xuống, đứng nhìn…
Bác Năm, mặt bí xị, cười cười: “Ngựa sút móng rồi bà con ơi! Xuống, xuống phụ đẩy nhen”. Bác tháo ngựa ra, dẫn đi khập khiễng phía trước, các thanh niên và mấy bà còn trẻ thay nhau đẩy chiếc xe, số còn lại rồng rắn đi bộ phía sau, mồ hôi, mồ kê nhễ nhại dưới cái nắng của buổi chiều… Chuyến xe ngựa chiều 29 thành cuộc đẩy xe ngựa, mỗi lần nhắc đến là nhớ hoài, nhớ mãi…