Thách thức với mục tiêu tăng trưởng 10% của kinh tế Việt Nam

14/01/2026 - 14:48

PNO - Các chuyên gua kinh tế tại hội thảo “Dự báo kinh tế Việt Nam năm 2026: Cơ hội, rủi ro và thích ứng của doanh nghiệp” do Tạp chí Doanh Nhân Sài Gòn phối hợp cùng Viện Sáng kiến Việt Nam tổ chức ngày 14/1 đã chỉ rõ những thách thức này.

Ông Đinh Hồng Kỳ – Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Xanh TPHCM (GDAB), Phó chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp TPHCM (HUBA) – cho rằng, việc sắp xếp bộ máy chính quyền hai cấp tiến hàng trong năm 2025 sẽ tạo ra độ trễ nhất định trong vận hành chính sách. Phải đến cuối năm 2026, bộ máy mới có thể hoạt động trơn tru và hỗ trợ doanh nghiệp hiệu quả.

Tuy nhiên, đầu tư công đang là điểm sáng với kinh tế Việt Nam với hàng loạt các dự án trọng điểm quốc gia đã và đang triển khai. Tại khu vực phía Nam, đầu năm 2026 chứng kiến sự bùng nổ của loạt siêu dự án hạ tầng: khởi công Metro số 2, số 6; tuyến đường sắt Thủ Thiêm – Long Thành; dự án đường vượt biển Cần Giờ – Vũng Tàu; sân bay quốc tế Long Thành và mở rộng các tuyến cao tốc huyết mạch.

Theo nhận định của Phó giáo sư, tiến sĩ Trần Đình Thiên – Nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam - dù thị trường có thể được cải thiện nhờ các chính sách tháo gỡ của Chính phủ, nhưng tốc độ hồi phục sẽ không nhanh. Doanh nghiệp không nên trông đợi vào một bước nhảy thần kỳ tức thì, bởi rủi ro và độ trễ trong triển khai chính sách. Đặc biệt, doanh nghiệp cần bám sát biến động lãi suất để dự báo các dao động ngắn hạn. Trong bối cảnh nhu cầu vốn rất cao nhưng khả năng huy động tăng chậm, dư địa cho chính sách tiền tệ bị thu hẹp, việc lãi suất đảo chiều tăng là điều khó tránh khỏi.

Sức khoẻ của doanh nghiệp mới chính là nền tảng của sự ổn định nền kinh tế - Ảnh: Thanh Hoa
Sức khoẻ của doanh nghiệp mới chính là nền tảng của sự ổn định nền kinh tế - Ảnh: Thanh Hoa

"Lâu nay, chúng ta thường coi lạm phát là chỉ tiêu vĩ mô quan trọng nhất. Nhưng tôi muốn nhấn mạnh rằng: Sức khỏe doanh nghiệp mới chính là nền tảng của sự ổn định. Việc hàng loạt doanh nghiệp rời khỏi thị trường là dấu hiệu bất ổn thực sự của nền kinh tế mà chúng ta chưa để ý đúng mức. Thực trạng cho thấy doanh nghiệp Việt đang ở trong tình thế: sứ mệnh thì cao cả, to lớn, nhưng sức lực lại rất yếu. Điều này đồng nghĩa với việc dư địa chính sách để tạo điều kiện cho doanh nghiệp bứt phá vẫn còn cực kỳ lớn", TS Trần Đình Thiên bày tỏ.

Ông Trần Đình Thiên kỳ cho rằng, trong năm 2026, Chính phủ cần đặc biệt quan tâm đến việc "bơm tiền", thậm chí có thể phải đánh đổi bằng một phần gia tăng của chỉ số giá tiêu dùng (CPI) giúp doanh nghiệp phục hồi theo hướng tăng hiệu quả. Tại Việt Nam, vòng quay tiền tệ quá chậm – chỉ khoảng một vòng mỗi năm. Đây là mức cực kỳ thấp, buộc chúng ta phải bơm nhiều vốn hơn nhưng hiệu quả mang lại không cao. Nếu nâng được tốc độ vòng quay tiền tệ, lượng vốn cần bơm sẽ giảm đi, kéo theo rủi ro lạm phát cũng giảm. Vì vậy, cải thiện bộ máy và thể chế để làm thông suốt dòng tiền đến doanh nghiệp là nhiệm vụ sống còn.

Theo ông Nguyễn Xuân Thành - Giảng viên cao cấp tại Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright, Việt Nam đang có những dấu hiệu rõ rệt của bẫy thu nhập trung bình, với nền tảng kinh tế phụ thuộc quá lớn vào khu vực FDI. Bằng chứng là trong năm qua, kim ngạch xuất khẩu của khối này tăng tới 26%, chiếm tới 77% tổng kim ngạch toàn quốc. Xuất khẩu từ doanh nghiệp nội địa lại sụt giảm 6%. Các doanh nghiệp lớn trong nước hiện tập trung chủ yếu vào lĩnh vực Tài chính - Ngân hàng và Bất động sản để tìm kiếm lợi nhuận cao, nhưng lại thiếu năng lực cạnh tranh quốc tế cần thiết để vươn ra toàn cầu.

Đặc biệt, các doanh nghiệp vừa và nhỏ - vốn là động lực chính của nhiều nền kinh tế - chưa nhận được sự quan tâm và hỗ trợ đúng mức. Trong khi đó, mô hình doanh nghiệp nhỏ và vừa của các nước như Trung Quốc đã cho thấy thành công vượt bậc trong việc tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Một minh chứng rõ ràng là dòng vốn FDI từ Trung Quốc đang đổ mạnh vào các ngành công nghiệp hỗ trợ tại Việt Nam như dệt may, cơ khí chính xác, hóa chất, pin... với quy mô vừa và nhỏ (từ 1-10 triệu USD). Mục tiêu của họ rất rõ ràng: gia tăng hàm lượng nội địa tại Việt Nam để đáp ứng các quy tắc xuất xứ ngày càng khắt khe. Sự thành công của những dự án quy mô nhỏ này minh chứng rằng việc tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu là hoàn toàn khả thi đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) Việt Nam.

Ông nhấn mạnh: "Một điều tôi rất lo ngại là chúng ta muốn thúc đẩy kinh tế tư nhân, nhưng dường như lại không đi theo cơ chế thị trường mà theo hướng 'chỉ định', dành những khu vực, dự án lớn nhất cho một số doanh nghiệp lớn. Nếu tiếp tục như vậy, khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam sẽ rất khó vươn lên".

Ông Thành phân tích thêm về chính sách cải cách thuế, cho rằng xu hướng chung là Nhà nước vẫn sẽ duy trì các chính sách ưu đãi thuế trong khuôn khổ "chính sách công nghiệp" để thúc đẩy những ngành ưu tiên. Tuy nhiên, ưu tiên cao hơn vẫn là tăng cường thu ngân sách từ thuế của doanh nghiệp và người dân, nhằm tài trợ cho các chương trình đầy tham vọng về cơ sở hạ tầng, khoa học công nghệ và an sinh xã hội. Hệ quả là, trong những năm tới, đa số doanh nghiệp và người dân cần chuẩn bị tinh thần đóng thuế nhiều hơn, trong khi chỉ một số ít may mắn được hưởng ưu đãi. Điều này là khó tránh khỏi và kéo theo rủi ro về mặt thuế ngày càng lớn.

Theo ông Thành, việc doanh nghiệp kỳ vọng vào lãi suất tín dụng giảm sâu, hay trông chờ vào các gói trợ giá từ ngân sách nhà nước cho ngành công nghiệp mới theo mô hình Trung Quốc, sẽ khó thành công ở Việt Nam và tiềm ẩn nhiều rủi ro pháp lý từ thanh tra, kiểm tra. Giải pháp tốt nhất vẫn là cải thiện môi trường kinh doanh một cách căn cơ: xóa bỏ các giấy phép con không cần thiết, kiểm soát tham nhũng, để doanh nghiệp muốn kinh doanh thì dễ dàng, không cần phải xin phép.

Các xu hướng định hình ngoại thương Việt Nam 2026

Cú hích công nghệ từ Mỹ: Nhu cầu về chip bán dẫn và AI từ Mỹ mở ra cơ hội cho Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Làn sóng dịch chuyển từ Trung Quốc: Năm 2026 là năm đầu tiên Trung Quốc thực hiện Kế hoạch 5 năm lần thứ 15. Sự bão hòa nội địa và rào cản từ phương Tây sẽ đẩy mạnh dòng vốn FDI từ Trung Quốc sang Việt Nam. Tuy nhiên, Việt Nam sẽ đối mặt với các cuộc điều tra lẩn tránh thuế khốc liệt hơn.

Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM): EU sẽ áp thuế carbon đối với hàng hóa nhập khẩu có cường độ phát thải cao như thép, nhôm, xi măng và phân bón. Nếu doanh nghiệp không có dữ liệu phát thải minh bạch, hàng hóa có nguy cơ bị áp mức thuế mặc định rất cao.

Quy định chống phá rừng (EUDR): Áp dụng nghiêm ngặt đối với các sản phẩm như gỗ, cao su, cà phê, da giày. Quy định này yêu cầu sự minh bạch tuyệt đối về nguồn gốc, thậm chí phải cung cấp dữ liệu định vị GPS để chứng minh sản phẩm không gây tác động đến rừng. Đây là bài toán lớn về truy xuất nguồn gốc cho hàng xuất khẩu Việt Nam vào châu Âu.

Ông Nguyễn Tiến Việt – Giám đốc Mạng lưới Chính sách Kinh tế

Thanh Hoa

 

news_is_not_ads=
TIN MỚI