Hai mươi năm trước, chị cất bước rời quê trong một ngày hè đầy nắng, khi vụ chôm chôm vừa khép lại. Khu vườn với những hàng cây trơ cành, trụi lá, xao xác tiếng ve kêu. Anh đứng tựa cửa nhìn chiếc xe mang theo hai mẹ con chị đang từ từ lăn bánh bỏ lại vệt khói theo gió uốn lượn trên đọt cây.
Chị ra đi mang theo khát vọng tìm cho con mình một tương lai ngập tràn ánh sáng chốn thị thành khi nhận ra mảnh vườn sau nhà quá chật chội không thể chứa được những giấc mơ mỗi ngày mỗi lớn của họ. Anh vốn kiệm lời và không hay bày tỏ, chỉ lặng lẽ ôm hôn con và siết chặt bàn tay chị.
Hai mươi năm, mỗi sớm mai bên tách trà đơn độc tựa hiên nhà, hay mỗi chiều về trong góc vườn phủ đầy bóng hoàng hôn, anh lặng lẽ như chiếc bóng, vẫn kiệm lời kể cả tin nhắn bao giờ cũng chỉ: “Ba nhớ hai mẹ con lắm!”. Những dòng tin ít chữ, những cuộc gọi mà khoảng lặng nhiều hơn tiếng nói đó như một mảnh vá, vá liền khoảng trống kéo dài suốt hai thập kỷ cho tình yêu trong họ vẹn vẻ, nguyên lành.
Hai mươi lần giao thừa anh lặng lẽ nhìn bóng mình khe khẻ hát: “Đón xuân này tôi nhớ xuân xưa”, cũng là 20 năm chị làm kẻ tha hương. Ở xứ người không có tết, chị đếm thời gian bằng tuổi lớn của con, cảm nhận tháng Chạp bằng mùi gió chướng nôn nao đi qua đời chị.
Quê chị từ ngày đưa ông Táo về trời - hăm ba tháng Chạp - đã bắt đầu thấy tết. Tết có mặt sớm nhất từ trong gian bếp luôn ám mùi khói và réo rắt tiếng củi khô. Ở đó, mỗi chiều từ ngoài vườn vô, mình mẫy ướt đẫm mồ hôi, anh hay ôm chị từ phía sau lưng, hít hà mùi khói bếp ám đầy vai áo vợ.
Mùi mồ hôi anh quyện với mùi khói bếp trên tóc chị trộn lẫn mùi củi chôm chôm cháy, mùi bồ hóng, mùi gạo mới từ nồi cơm đang sôi trào ra miệng nồi rớt xuống lửa nghe xèo xèo, mùi cá kho ùng ục trên cái cái ơ đất… tỏa ra một thứ mùi hạnh phúc ấm áp và bình yên.
Cho đến khi điện lưới quốc gia phủ khắp vùng, nhà chị cũng sắm bếp điện, bếp từ. Nhưng anh vẫn che cho chị một chái bếp sau vườn, chất mấy cự củi khô và róc cho chị chục bó lá dừa gác trên giàn bếp.
Với chị, khói bếp không chỉ là hương vị quê nhà mà còn là một phần đời êm đềm hạnh phúc bên anh.
Tiễn táo đi rồi, nhưng lửa bếp vẫn cứ bấp bùng ngày đêm sớm tối. Ngoài sân, anh cặm cụi với nồi bánh tét nghi ngút khói. Trong nhà, chị lăng xăng vừa hớt bọt nồi thịt kho rệu, vừa thăm chừng ơ khổ qua hầm – ăn cho “khổ nó qua đi”.
Chiều 30, trong phảng phất khói nhang, anh chị trịnh trọng rước tổ tiên ông bà về sum vầy cùng con cháu. Ngày tết, bàn thờ gia tiên là nơi được trang hoàng rực rỡ nhất, trang trọng nhất, là nơi linh thiêng nhất trong mỗi gia đình người Việt. Mọi người tắm gội sạch sẽ thơm tho diện bộ áo đẹp nhứt, mới nhứt hoan hỉ chờ đợi phút giao thừa.
Sau giao thừa, anh chị có thói quen cùng đi chùa lễ Phật. Ngôi chùa nằm ngó mặt ra con sông lồng lộng gió. Trong đêm trừ tịch, từng hồi chuông ngân nga trôi trên mặt nước sông đầy luôn dội vào lòng chị một nỗi niềm khó tả. Ngoài cội bồ đề ở giữa sân, rất nhiều bụi nguyệt quế được nhà chùa trồng dọc theo hai bên con đường nhỏ dẫn vào cổng chùa dành để hái lộc. Chị thường cẩn trọng nhẹ nhàng hái một bông hoa nguyệt quế bé xíu bỏ vô túi áo. Nụ hoa dễ thương giống hình giọt nước trắng ngần, theo chị vào trong giấc ngủ thom tho. Bây giờ những bụi nguyệt quế ấy chắc đã già nua cằn cỗi.
Hai mươi năm, chị da diết nhớ những ngày chuẩn bị ăn Tết bù đầu bù cổ. Nhớ mùi khói bếp, nhớ tiếng củi cháy lách tách bên dưới nồi bánh tét, nhớ những đòn bánh vừa được vớt ra, nghi ngút khói, thơm nứt mùi lá chín. Nhớ người đàn ông mê tết y như con nít và thích tự tay nướng bánh tráng, bánh phồng. Bên đống lửa rơm, bóng anh lung linh, hai tay thoăn thoắt giũ bánh. Chị nhớ mùi vị của những cái bánh vàng rượm, giòn tan.
Cho đến khi nỗi nhớ trong chị đã trở nên đằm thắm, thẳm sâu chứ không còn cồn cào, quýnh quáng nữa thì… đêm đêm, giấc ngủ chị bắt đầu bị xé vụn bởi linh cảm về một điều gì đó rất mơ hồ nhưng nó luôn làm cõi lòng chị chao nghiêng và trái tim đau thon thót. Chị quyết định quay về.
Vốn rất kiệm lời nhưng bằng cuộc gọi “nấu nhừ” tai chị, anh ríu rít như chàng trai đang tuổi hẹn hò. Anh nói anh sẽ sơn lại ngôi nhà, sơn lại khung cửa sổ mở ra một góc vườn, chỗ sáng sáng chị hay ngồi ngó mấy con chim chìa vôi chuyền cành làm rung rinh bóng lá. Anh sẽ tráng lại khoảng sân đã bám đầy rong rêu. Anh sẽ lôi hết quần áo chị ra giặt giũ, phơi thiệt thơm nắng cho chị về mặc. Cùng bao nhiêu dự tính “dưỡng già”. Anh nói, đợi chị về nấu cho anh nồi canh chua cá linh bông so đũa “ăn cho đã đời” một bữa vì canh chua khó nêm quá.
Vậy mà anh không chờ chị. Anh đi nhanh đến nỗi chị không kịp nhận ra mình thật sự đau ở chỗ nào. Anh ra đi nhẹ nhàng như cách anh ngụ ở trần gian: lặng lẽ, cam chịu, không làm phiền ai.
Chị về, khoảng sân phía trước phủ kín lá vàng, mảnh vườn sau cỏ mọc um tùm… Chỉ có bốn bức tường vôi là mới. Con dâu chị nói: “Nhà Bố đẹp nhưng không còn bố”.
Chị loanh quanh mấy chậu mai vàng, vuốt ve từng cánh mỏng manh: “Bạn ơi! tui về rồi nè”. Có tiếng anh trong gió Tết lao xao: “Ừ! Tui biết rồi”.
Lương Gia Cát Tường