Trẻ “dính” với thiết bị điện tử
Gần 3 tuổi, con trai chị Nguyễn Thị Thắm - 28 tuổi, TPHCM - chỉ nói được vài từ đơn giản như “ba”, “bà”… trong khi những đứa trẻ cùng trang lứa đã có thể nói những câu ngắn và giao tiếp với người thân. Thấy vậy, chị đưa con đến bệnh viện khám mới biết bé bị chậm nói, rối loạn cảm xúc, rối loạn giấc ngủ. Chị chia sẻ bản thân cũng thường xuyên xem điện thoại nên cho con tiếp xúc với điện thoại từ khi còn rất nhỏ. “Khi con quấy khóc, tôi thường mở bài hát thiếu nhi để dỗ dành. Chỉ cần xem clip, bé mới bú ngoan và ngồi yên nên giờ ăn, ngủ hoặc nhà có khách, tôi sẽ đưa điện thoại cho bé” - chị nhớ lại.
 |
| Trẻ được can thiệp âm ngữ trị liệu tại Bệnh viện Nhi Đồng 2 |
Ban đầu, chồng chị nhắc nhở việc cho con xem điện thoại quá sớm, nhưng chị cho rằng các bài hát thiếu nhi không gây hại, thậm chí còn giúp con nhanh nhẹn, thông minh hơn. Như việc hơn 1 tuổi, con đã có thể tự tìm, chuyển đến những bộ phim hoạt hình, bài hát mình thích.
Tuy nhiên, theo thời gian, bé ngày càng lệ thuộc vào điện thoại, hầu như không chủ động giao tiếp với người thân. Mỗi khi muốn ăn uống hoặc đòi hỏi điều gì, bé thường la hét, khóc lóc thay vì diễn đạt bằng lời nói. Bé cũng dễ cáu gắt khi bị ngắt quãng việc xem điện thoại và thường xuyên đòi thiết bị bằng mọi cách. Tình trạng này kéo dài khiến gia đình lo lắng, đặc biệt khi nhận thấy con gần như không thể rời mắt khỏi màn hình.
Theo bác sĩ, việc tiếp xúc với thiết bị điện tử quá sớm và kéo dài đã làm cho bé “nghiện điện thoại”. Cha mẹ cần phối hợp với bác sĩ để lên kế hoạch “cai điện thoại” và tập nói lại cho bé.
Tuy đã lên 4 tuổi, nhưng bé P.T.T. gần như không giao tiếp với ai ngoài cha mẹ. Thấy vậy, chị Trần Thu Thanh - mẹ của bé T. - cho con đi học mầm non với hy vọng con sẽ năng động hơn. Những ngày đầu đi học, bé T. quấy khóc, không chịu vào lớp, cho tới khi mẹ dỗ dành, đưa điện thoại để xem phim hoạt hình quen thuộc. Giáo viên nhiều lần khuyên gia đình không nên cho trẻ sử dụng điện thoại tại trường vì ảnh hưởng đến việc hòa nhập, cũng như các bé khác. Tuy nhiên, chị Thanh năn nỉ cho con xem điện thoại vài ngày vì… chưa quen trường lớp. Không đưa điện thoại cho bé mang theo, con không chịu đi học.
“Ở nhà bé cũng luôn “dính” với điện thoại. Có lần, tôi yêu cầu đưa điện thoại cho mẹ, bé lập tức la hét, đập phá đồ đạc. Cô giáo cũng nhiều lần “tịch thu” điện thoại của bé, thì con quấy khóc, không nói chuyện, chỉ gật, lắc đầu, nên nói tôi đưa bé đi khám tâm lý” - chị Thanh kể. Chuyên gia tâm lý cho rằng việc lệ thuộc vào điện thoại trong thời gian dài đã làm giảm đáng kể cơ hội tương tác trực tiếp của trẻ với người thân, và môi trường xung quanh, ảnh hưởng đến khả năng giao tiếp, kiểm soát cảm xúc của bé.
Cần phát hiện và can thiệp sớm
Theo bác sĩ chuyên khoa 2 Nguyễn Thanh Sang - Trưởng khoa Liên chuyên khoa tâm lý lâm sàng - phục hồi chức năng - y học cổ truyền, Bệnh viện Nhi Đồng 2 - số lượng trẻ em được đưa đến khám vì những vấn đề liên quan đến việc sử dụng thiết bị điện tử quá mức đang tăng lên. Không ít trẻ chỉ mới hơn 2 tuổi đã lệ thuộc vào điện thoại thông minh, máy tính bảng.
Ngoài việc trẻ bị ảnh hưởng đến mắt, tật khúc xạ, trẻ còn có thể bị các rối loạn như TIC, vấn đề sức khỏe tâm thần và sự phát triển toàn diện. Nhiều trẻ còn bị rối loạn giấc ngủ, giảm tập trung, khả năng tiếp thu kém, học tập sa sút hoặc có biểu hiện rối loạn hành vi. Một số trẻ hình thành thói quen phụ thuộc vào thiết bị điện tử vì được đáp ứng nhu cầu giải trí từ quá sớm. Một trong những biểu hiện thường gặp nhất đó là trẻ bị chậm nói, khó khăn trong phát triển ngôn ngữ.
“Trẻ tiếp xúc màn hình quá sớm hầu hết đều xem các video, nên thường giảm tương tác với cha mẹ và những người xung quanh. Đây là nguyên nhân khiến trẻ hạn chế khả năng tiếp nhận và sử dụng ngôn ngữ, dẫn đến chậm nói” - bác sĩ Nguyễn Thanh Sang lý giải.
Theo bác sĩ Nguyễn Thanh Sang, giai đoạn từ 0-3 tuổi là “thời kỳ vàng” phát triển ngôn ngữ. Trong thời gian này, não bộ trẻ phát triển rất nhanh và cần được kích thích thông qua giao tiếp trực tiếp với cha mẹ, người thân và môi trường xung quanh. Tuy nhiên, khi dành quá nhiều thời gian trước màn hình, trẻ chủ yếu tiếp nhận thông tin một chiều. Trẻ chỉ nhìn và nghe mà không cần phản hồi, trao đổi hay tương tác.
Nhiều phụ huynh khi thấy con chậm nói thường lo lắng quá mức, cho rằng trẻ mắc rối loạn phổ tự kỷ, mang con đi điều trị nhiều nơi, vô tình bỏ qua “thời gian vàng” khắc phục chậm nói. Trong khi đó, nếu được phát hiện sớm, đặc biệt ở những trường hợp chậm nói đơn thuần, việc can thiệp thường không quá phức tạp và trẻ có thể cải thiện tốt. Ngược lại, nếu kéo dài, trẻ có nguy cơ gặp nhiều hệ lụy như suy giảm thị lực, thiếu kỹ năng xã hội, khó hòa nhập với bạn bè, chán học, né tránh trường lớp và ảnh hưởng đến sự hình thành nhân cách.
Còn bác sĩ Bệnh viện Nhi Đồng 1 chia sẻ, một số nghiên cứu cho thấy trẻ sử dụng điện thoại hoặc máy tính bảng khoảng 30 phút mỗi ngày có nguy cơ chậm nói cao hơn so với nhóm ít tiếp xúc màn hình. Việc tiếp xúc màn hình từ 1-4 giờ mỗi ngày cũng có thể ảnh hưởng đến khả năng giao tiếp, kỹ năng xã hội và phát triển vận động của trẻ.
Do đó, các chuyên gia khuyến cáo trẻ dưới 18-24 tháng tuổi không nên tiếp xúc với màn hình điện tử, ngoại trừ các cuộc gọi video với người thân. Đối với trẻ từ 2-5 tuổi, tổng thời gian sử dụng thiết bị điện tử không nên vượt quá 1 giờ mỗi ngày và cần có sự giám sát của người lớn.
Quan trọng, thay vì sử dụng điện thoại để dỗ trẻ ăn hoặc khi trẻ quấy khóc, phụ huynh nên dành thời gian trò chuyện, đọc sách, kể chuyện, hát cùng con. Những hoạt động đơn giản này giúp kích thích phát triển ngôn ngữ hiệu quả hơn nhiều so với việc cho trẻ xem màn hình.
Dấu hiệu nhận biết trẻ có nguy cơ chậm nói Trẻ 12 tháng tuổi chưa bập bẹ hoặc chưa nói được những từ đơn giản. Trẻ từ 18-24 tháng tuổi có vốn từ rất ít so với lứa tuổi, trẻ ít giao tiếp bằng ánh mắt hoặc cử chỉ, ít phản ứng khi được gọi tên. Trẻ thích xem điện thoại, ti vi, chú tâm với các video hơn là chơi hoặc trò chuyện với người khác. Nếu những dấu hiệu này kéo dài, phụ huynh nên đưa trẻ đến cơ sở y tế để được đánh giá và can thiệp sớm. |
Phạm An