PNO - Trong nhịp sống hiện đại đầy biến động, nhiều phụ nữ vẫn chọn bám nghề, giữ làng. Với họ, đó không chỉ là kế sinh nhai mà còn là cách gìn giữ văn hóa làng nghề truyền thống của quê hương.
Những ngày giáp tết, làng nhang Lê Minh Xuân rộn ràng vào vụ. Dừng chân tại cơ sở sản xuất nhang Minh Phước của chị Nguyễn Cát Bụi Thúy - 49 tuổi, tại B6/1A đường Mai Bá Hương, ấp 11, xã Bình Lợi - chúng tôi được đón tiếp bằng nụ cười hiền hậu của người phụ nữ đã hơn 30 năm gắn bó với nghề nhang truyền thống. Trong xưởng, những người thợ vẫn miệt mài với những công việc trộn bột, se nhang, sấy khô, lựa thành phẩm rồi đóng gói, tạo nên nhịp lao động đều đặn, tất bật.
Chị Nguyễn Cát Bụi Thúy (bìa phải) hơn 30 năm gắn bó với nghề làm nhang
Mở đầu câu chuyện, chị Thúy tự hào khi xưởng nhang Minh Phước của mình đã được nhiều người biết đến và đến nay vẫn giữ trọn chất lượng, lưu giữ mùi hương thân quen. Chị kể, để gắn bó được với nghề là cả một chặng đường nhiều gian nan với không ít lần thất bại. Sinh ra và lớn lên trong gia đình có truyền thống làm nhang, tuổi thơ của chị Thúy gắn liền với mùi hương trầm và những bó nhang phơi trước sân nhà. Khi ấy, gia đình còn nhiều khó khăn, mẹ chị gắn bó với nghề nhang để nuôi cả gia đình, còn chị theo mẹ để phụ giúp những chuyện lặt vặt.
Hết lớp Sáu, chị Thúy nghỉ học để theo mẹ làm nhang. Khi nghề gặp khó, mẹ dừng lại, chị phải đi làm thuê cho nhiều nơi. Dành dụm được ít vốn, chị trở về phục dựng lại nghề truyền thống của gia đình. Nhưng lần khởi nghiệp ấy đã thất bại do sản phẩm không đạt yêu cầu về màu sắc, hương thơm và cả hình dáng. Không nản chí, chị Thúy kiên trì mày mò cải tiến công thức, điều chỉnh nguyên liệu, đổi tăm vuông sang tăm tròn và chăm chút từng khâu sản xuất. Nhờ bền bỉ “đeo nghề”, sản phẩm nhang của chị dần được thị trường đón nhận, có mặt tại TPHCM và nhiều tỉnh miền Tây; xưởng làm nhang của chị trở thành một trong những cơ sở sản xuất nhang quy mô bậc nhất Sài thành.
Trong lúc mọi hoạt động đang trơn tru thì dịch COVID-19 đến, cơ sở của chị Thúy gần như tê liệt: sản xuất ngưng trệ, không có đơn hàng, phải đóng cửa. Sau dịch, nhiều hộ làm nhang bỏ nghề, chị vẫn bám trụ với quyết tâm giữ lửa cho nghề. Tiếp sau đó, chị lại phải gồng mình để vượt qua giai đoạn khan hiếm nguyên liệu đầu vào do bão lũ. Khi hoạt động sản xuất có chút lãi, chị Thúy gom góp đem tái đầu tư mua sắm máy móc để nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Đến nay, cơ sở của chị được mở rộng khoảng 4.000m² với hơn 30 máy trộn bột, 15 lò sấy với công suất mỗi ngày cho ra hàng ngàn thiên nhang (mỗi thiên gồm 1.000 cây nhang).
Với chị Nguyễn Cát Bụi Thúy, xưởng nhang không đơn thuần là nơi sản xuất mà còn là điểm tựa sinh kế cho nhiều lao động khó khăn. Hiện tại, cơ sở của chị tạo việc làm cho phần lớn người lớn tuổi, người có hoàn cảnh khó khăn. Người chưa biết nghề sẽ được chị trực tiếp dạy nghề. Những lao động từ nơi khác đến được chị hỗ trợ chỗ ở miễn phí. Người không đủ vốn mua máy móc được chị tạo điều kiện mua trả góp theo khả năng, thậm chí chị tặng luôn, để họ có dụng cụ làm việc tại nhà. Chị Thúy chia sẻ, trước đây người dân làng nhang Lê Minh Xuân chủ yếu sống bằng nghề trồng mía, nhổ cỏ nên cuộc sống bấp bênh. “Tôi may mắn được mẹ truyền nghề, nên muốn dạy lại cho bà con trong làng cách se nhang. Có nghề trong tay, bà con đỡ vất vả hơn, không phải tha phương kiếm sống” - chị nói.
Có thời điểm, cơ sở sản xuất nhang của chị Thúy thu hút khoảng 60 lao động làm việc tại chỗ. Còn hiện tại, do chi phí nguyên liệu tăng cao, thị trường biến động, nên số lao động chỉ duy trì ở mức 20-30 người. Tùy theo công đoạn và số lượng sản phẩm, thu nhập của người lao động dao động từ 100.000-500.000 đồng/ngày, bình quân 4-5 triệu đồng/tháng. Vào các tháng cao điểm như tháng Giêng, tháng Bảy, Mười một và Chạp âm lịch, thu nhập có thể tăng lên 5-6 triệu đồng/người/tháng.
Không chỉ tập trung sản xuất, chị Thúy còn chủ động quảng bá làng nghề bằng việc đưa sản phẩm tham dự các ngày hội của thành phố; đón các đoàn học sinh, sinh viên và du khách đến tham quan, trải nghiệm làm nhang tại cơ sở của mình. Hiện, chị đang ấp ủ kế hoạch mở không gian trưng bày kết hợp trải nghiệm nghề, ứng dụng công nghệ số để giới thiệu sản phẩm và kể câu chuyện làng nghề.
Bám đất, giữ nghề mai
Gia đình bà Nguyễn Thị Út - ở ấp 3, xã Bình Lợi - được xem là một trong những hộ gắn bó bền bỉ với nghề trồng mai. Dịp tết năm ngoái gia đình bà đã bán ra vài trăm gốc mai vàng, thu về khoảng 600 triệu đồng. Nguồn thu này giúp gia đình duy trì cuộc sống và tái đầu tư để duy trì nghề.
Chỉ tay về vườn mai đang lớn, bà Út chậm rãi kể về quãng đời gắn bó với vùng đất Bình Lợi. Gần nửa thế kỷ trước, bà theo chồng về đây sinh sống và chứng kiến cảnh đất trũng thấp, phèn mặn, nước ngập trắng đồng, đường sá chưa có, sinh kế của người dân chủ yếu dựa vào cây mía, cây dứa, nhưng “được mùa mất giá, được giá mất mùa”. Đã có lúc vợ chồng bà tính chuyện rời quê hương đi nơi khác mưu sinh, nhưng “nghĩ tới nghĩ lui”, họ lại cắn răng bám đất và chuyển sang nghề trồng cây mai vàng.
Bà Nguyễn Thị Út (bìa phải) và con gái, dù khó khăn vẫn bám trụ với đất và nghề trồng mai
Nhưng mai là loại cây “ăn chậm”, phải 3 năm trở lên mới cho thu hoạch, vốn đầu tư lớn, nên ban đầu vợ chồng bà phải vay 100 triệu đồng để đầu tư cây giống. Nhưng mai cũng là cây có độ rủi ro cao. Có vụ, thương lái đặt cọc hàng trăm triệu đồng, nhưng do mưa lớn, triều cường dâng cao khiến mai chết hàng loạt, vợ chồng bà bị “lỗ tới mức không dám ăn dám cười”.
Bà Út cho biết, ban đầu, khi chuyển từ cây mía sang cây mai, ai cũng đi tìm giống đẹp về trồng, nhưng hiệu quả không cao. Rút kinh nghiệm, bà tự chọn và lấy hạt giống từ những cây cho hoa đẹp, tàn cân đối, ươm thành cây con và gây giống ngay tại vườn. Cách làm này giúp giảm chi phí mua cây giống và dần ổn định sản xuất. Tuy nhiên, vẫn phải chăm chút từ khâu cải tạo đất, thoát nước, tưới tiêu, bón phân, lặt lá, bứng cây, vào chậu… Bởi chỉ một sơ suất nhỏ trong mùa mưa hay khi nước dâng cũng có thể khiến bao công sức đổ sông đổ biển.
Những năm gần đây, do tuổi cao sức yếu, bà Út lui về phía sau và nhường lại công việc cho các con. Cả 4 người con của bà đều theo nghề trồng mai. Họ đã cải tạo vườn và thuê thêm đất để phát triển nghề. Chị Trương Thị Ngọc Yến - con bà Út - hiện trồng hơn 1.000 gốc mai trên 2.500m² đất được mẹ chia cho. Chị Yến cho biết, do điều kiện tự nhiên ngày càng khắc nghiệt, quỹ đất ngày càng thu hẹp, thời gian thu hồi vốn dài, sự cạnh tranh ngày càng ngày gắt, nên nghề trồng mai không “dễ ăn” như xưa. Tuy nhiên, chị và nhiều bà con trong xóm vẫn cố gắng duy trì nghề như giữ một sinh kế có sẵn và cũng là cách để bám đất, giữ làng.
Bà Nguyễn Hồng Thúy Hằng - Chủ tịch Hội LHPN xã Bình Lợi - nhận xét, chị Nguyễn Cát Bụi Thúy và bà Nguyễn Thị Út là những phụ nữ tiêu biểu gắn bó bền bỉ với việc gìn giữ làng nghề truyền thống tại địa phương. Dù đối mặt nhiều khó khăn như biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh và thị trường bấp bênh, họ vẫn kiên trì và yêu nghề, không chỉ để mưu sinh mà còn gìn giữ các giá trị văn hóa truyền thống của quê hương.
Để tiếp sức cho hội viên tiếp tục gìn giữ làng nghề, Hội LHPN đã triển khai nhiều hoạt động hỗ trợ thiết thực như: tạo điều kiện cho phụ nữ vay vốn để phát triển kinh tế, mua hạt giống, cây giống, nguyên vật liệu; tổ chức tập huấn kỹ năng live stream bán hàng, quảng bá sản phẩm các làng nghề nhằm thu hút người tiêu dùng. Thời gian tới, hội sẽ tạo điều kiện để hội viên có không gian trưng bày, quảng bá sản phẩm, đồng thời hỗ trợ xây dựng các gian hàng, điểm bán hàng trực tuyến và trực tiếp, vận động thu hút thêm hội viên tham gia, góp phần phát triển kinh tế - xã hội và gìn giữ nghề truyền thống tại địa phương.