Hơn 90% người mắc bệnh thận mạn không biết mình bệnh

15/01/2026 - 14:08

PNO - Cục Phòng bệnh (Bộ Y tế) vừa phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu và Đánh giá Kinh tế Y tế (HERAC) tổ chức hội thảo “Tăng cường phòng chống và quản lý bệnh thận mạn tại Việt Nam”, nhằm thúc đẩy các giải pháp dựa trên bằng chứng để dự phòng, phát hiện sớm và quản lý bệnh thận mạn (CKD) theo hướng liên tục, tích hợp và lấy người bệnh làm trung tâm.

Theo tổng hợp tại hội thảo, Việt Nam ước tính hiện có khoảng 12,8% dân số trưởng thành mắc bệnh thận mạn, song trên 90% người bệnh chưa biết mình mắc bệnh. Mỗi năm, số ca được tầm soát chỉ khoảng 8.000, khiến phần lớn bệnh nhân chỉ được phát hiện khi bệnh đã ở giai đoạn 3-5, kèm theo nhiều biến chứng như tim mạch, thiếu máu, rối loạn điện giải… Điều này làm gia tăng nhanh nhu cầu điều trị thay thế thận và nguy cơ tử vong.

Các chuyên gia đầu ngành tham dự hội thảo - Ảnh: H.L
Các chuyên gia đầu ngành tham dự hội thảo - Ảnh: H.L

Ở giai đoạn cuối, gánh nặng bệnh thận mạn trở nên đặc biệt nghiêm trọng. Năm 2023, Việt Nam ước tính có khoảng 46.000 người cần lọc máu, trong khi năng lực hệ thống chỉ có khoảng 7.000 máy lọc thận. Tỉ lệ tử vong sau 5 năm ở nhóm chạy thận lên tới khoảng 50%. Chi phí chạy thận nhân tạo trung bình từ 9,6-22,5 triệu đồng/tháng.

Một điểm mới được nhấn mạnh tại hội thảo là góc nhìn môi trường trong quản lý bệnh thận mạn, thông qua các phân tích từ IMPACT-CKD. Kết quả cho thấy 3 nguồn phát thải carbon lớn nhất trong chăm sóc bệnh nhân CKD đến từ nhập viện, di chuyển và đặc biệt là điều trị thay thế thận ở giai đoạn cuối.

Mỗi bệnh nhân CKD giai đoạn 5 có thể phát thải tới 6,6 tấn CO₂ mỗi năm; tổng phát thải hằng năm từ điều trị bệnh thận mạn giai đoạn cuối tại Việt Nam ước khoảng 0,5 triệu tấn CO₂.

Các số liệu này cho thấy nếu làm chậm tiến triển bệnh, tăng cường phát hiện sớm và quản lý tại cộng đồng, ngành y tế không chỉ giảm chi phí mà còn góp phần giảm đáng kể dấu chân carbon, phù hợp với cam kết Net Zero 2050 của Việt Nam.

Khảo sát thực trạng chẩn đoán và theo dõi CKD cũng cho thấy, tỉ lệ bệnh nhân nguy cơ cao được làm đầy đủ xét nghiệm còn thấp; hơn 1/3cơ sở y tế chỉ thực hiện đầy đủ cho dưới 25% bệnh nhân. Việc xét nghiệm chủ yếu diễn ra 1 lần/năm, thậm chí không định kỳ, dẫn đến bỏ sót chẩn đoán sớm.

Từ thực tiễn này, hội thảo cụ thể hóa khuyến nghị triển khai theo 4 nhóm giải pháp, gồm: Chuẩn hóa sàng lọc chủ động, sử dụng bộ câu hỏi SCORED CKD, que thử nhanh protein niệu và tăng chỉ định xét nghiệm eGFR, UACR định kỳ cho nhóm nguy cơ; nâng cao nhận thức cộng đồng về yếu tố nguy cơ, dấu hiệu sớm của bệnh; xây dựng mô hình quản lý lấy người bệnh làm trung tâm; cải thiện chất lượng sống giai đoạn cuối, tối ưu điều trị thay thế thận, mở rộng các lựa chọn tại nhà khi phù hợp.

Hội thảo cũng ghi nhận những mô hình thực tiễn đang tạo tác động rõ nét, trong đó có chương trình CAREME - Yêu lấy mình, do Cục Quản lý Khám, Chữa bệnh (Bộ Y tế) và AstraZeneca Việt Nam hợp tác triển khai, với sự đồng hành của các bên liên quan. Chương trình tích hợp sàng lọc và quản lý bệnh tim mạch - thận - chuyển hóa, phối hợp cùng Hội Thầy thuốc trẻ Việt Nam trong chiến dịch khám sàng lọc cộng đồng.

Từ năm 2022 đến nay, CAREME đã sàng lọc hơn 200.000 người dân, phát hiện gần 10.000 ca bệnh thận mạn giai đoạn sớm, tích hợp dữ liệu vào hồ sơ sức khỏe điện tử và được Bộ Y tế đánh giá cao, định hướng nhân rộng trong Chiến lược quốc gia phòng chống bệnh không lây nhiễm giai đoạn 2026 - 2035.

Trong bối cảnh Quốc hội đã thông qua chương trình Mục tiêu Quốc gia về Chăm sóc sức khỏe, Dân số và Phát triển giai đoạn 2026 - 2035, việc đưa bệnh thận mạn vào nhóm ưu tiên chiến lược được xem là bước đi quan trọng.

Ngọc Thùy

Nguồn: CAREME

 

news_is_not_ads=
TIN MỚI