Menu

Phát minh thiết bị đặc biệt giúp giảm nguy cơ sinh non

09:00 28/12/2017

pno
Mỗi năm trên thế giới có khoảng 15 triệu trẻ sinh non, tức khoảng 1/10 số trẻ chào đời.

Trẻ sinh non có nguy cơ mắc phải các vấn đề nghiêm trọng, bao gồm những vấn đề về hô hấp, tim mạch và gặp khó khăn trong học tập.

Các nhà khoa học mới đây đã tìm thấy một giải pháp cho vấn đề này. Họ phát hiện rằng đặt một chiếc vòng nhỏ quanh cổ tử cung của thai phụ trong thời gian mang thai sẽ giúp giảm nguy cơ sinh non.

Phat minh thiet bi dac biet giup giam nguy co sinh non
Một chiếc vòng nhỏ quanh cổ tử cung giúp giảm nguy cơ sinh non cho thai phụ.

Nghiên cứu do các nhà khoa học từ Đại học Naples (Ý) thực hiện trên 300 thai phụ được cho là có nguy cơ sinh non vì kết quả thăm khám ban đầu cho thấy họ có cổ tử cung ngắn – một yếu tố nguy cơ sinh non đã được biết đến.

300 thai phụ nói trên được chia thành 2 nhóm, trong đó một nửa được trang bị vòng cổ tử cung vào tuần thứ 20 của thai kỳ, nửa còn lại để tự nhiên.

Vòng cổ tử cung được lấy ra vào tuần thứ 37 của thai kỳ, trừ khi thai phụ bị chảy máu nặng hoặc bị các tác dụng phụ khác sớm hơn.

Phat minh thiet bi dac biet giup giam nguy co sinh non
Trẻ sinh non có nguy cơ bị các bệnh bại não, khuyết tật phát triển, khiếm thính và khiếm thị cao hơn. Trẻ sinh non càng sớm thì các nguy cơ trên càng cao.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong số những người được trang bị vòng cổ tử cung, chỉ có 7,3% sinh con trước tuần thứ 34 của thai kỳ, tỷ lệ này ở nhóm không có vòng cổ tử cung là 15,3%.

Như vậy, vòng cổ tử cung đã giúp giảm nguy cơ sinh non đến 52%. Các nhà khoa học tin rằng vòng cổ tử cung đã giúp giữ cổ tử cung của thai phụ đóng lại, nhờ vậy em bé được giữ trong tử cung lâu hơn.

Chiếc vòng này được làm bằng chất liệu silicon, nó hoạt động theo cơ chế điều chỉnh hướng của ống cổ tử cung, dó đó trọng lượng em bé không thể khiến cổ tử cung mở ra quá sớm.

Các thai phụ được trang bị vòng cổ tử cung trong quá trình nghiên cứu cho biết tác dụng phụ của phương pháp này rất nhỏ. Dù vậy, nghiên cứu chỉ mới được thực hiện trên một nhóm nhỏ và cần có thể các chương trình thử nghiệm lớn hơn trước khi chính thức được áp dụng.

Hà Di