Phóng viên: Trong “Quán Kỳ Nam”, chị đã đặt người phụ nữ vào những ngã rẽ mong manh nhưng đầy thử thách của số phận, điều gì khiến chị lựa chọn những góc nhìn đó?
Nhà văn, nhà biên kịch Nguyễn Thị Minh Ngọc: Viết về thân phận phụ nữ không phải đặc quyền của nữ giới. Lịch sử văn chương Việt Nam cho thấy rất nhiều nhà văn, nhà viết kịch là nam, đã đi rất xa và rất sâu vào nỗi niềm đàn bà: Nguyễn Du với “Truyện Kiều”, Trần Hữu Trang với “Đời cô Lựu”… Những câu như “Tấm lòng trinh bạch từ nay xin chừa”, hay “Lựu bây giờ không như Lựu ngày xưa”…
Với tôi, sự thôi thúc không nằm ở việc “đàn bà viết về đàn bà”, mà ở nhu cầu nhìn lại những khoảnh khắc mong manh ấy từ bên trong đời sống đương đại, nơi người phụ nữ không chỉ chịu định mệnh mà còn tự ý thức về lựa chọn của mình. Nếu có một khác biệt, thì đó là góc nhìn của người từng đi qua những chao đảo rất nhỏ, rất đời thường, nơi bi kịch không ồn ào mà lặng lẽ, chính sự lặng lẽ ấy mới là biên độ tinh tế nhất của thân phận. Cho dù nhân vật nữ được xây dựng từ mình hay từ ai khác, tôi đều mong các sáng tác của mình có thể giúp những người yếu thế, oan ức… có thể cất lên tiếng nói.
Một người từng trải, nhiều thăng trầm và một người còn trẻ, chị làm thế nào để giữ cho mối quan hệ này chân thực, không sa vào lãng mạn hóa hay hình thức?
Một nữ khán giả trí thức từ Hà Nội gọi cho tôi chỉ để muốn giải tỏa thắc mắc về nụ hôn giữa Kỳ Nam và Khang mà chị và nhóm bạn của chị cho rằng không nên có. Riêng tôi, kiểu quan hệ tri âm này nên để khán giả tự cảm nhận theo chiều sâu cảm xúc thì tốt hơn, không nên đặt nặng tính chiếm hữu hay tham vọng “đánh dấu chủ quyền lãnh thổ” mà nên thấy trước từ đầu là mọi thứ rồi cũng chỉ “để gió cuốn đi”! Ngay từ đầu Kỳ Nam đã bắt Khang hứa: “Khi nào cần phải đi, cậu sẽ đi.” Lúc cô lặp lại câu nói đó ở lần đi với Khang đêm cuối, với tôi, đó là một lời tỏ tình đau đớn.
Chị nghĩ gì khi nhiều người nói họ cảm được sự tinh tế trong các tác phẩm của chị viết?
Tôi không nghĩ “tinh tế” đi suốt với các tác phẩm hay kịch bản của tôi mà tùy đề tài và vấn đề của tác phẩm đặt ra. Dù tôi viết chung hay viết riêng, dù sáng tác hoàn toàn hay chuyển thể từ tác phẩm gốc, ai cũng thấy “Hương ga” khác “Song Lang”, “Tiên nga” khác “Tía ơi, Má dìa”; “29 Anh về” khác “Giữa hai bờ sương khói”; “Người đàn bà thất lạc” khác hẳn “Duyên thệ”… Đó là chưa kể khi đưa lên sân khấu, còn có nhiều người đắp thêm da thịt như nhạc sĩ Đức Trí đã chỉnh lời thơ của tôi thành ca từ của “Người cầm bút mù- tức cụ Đồ Chiểu cho bản nhạc mở đầu nhạc kịch Tiên Nga; NSƯT Thành Lộc nhận vai anh chàng câm khi đã được chỉnh dây thanh đới thì bổ sung câu thoại dài hơn 15 phút trong “Vàng hay bạc nhái” mà tôi thường chạy đến xem cảnh chót để cùng thưởng thức với khán giả khi còn ở Việt Nam.
Sự kết hợp giữa chị và đạo diễn Leon trong việc viết kịch bản có pha tranh luận nào đáng nhớ không?
Chất liệu ngoài đời sống của chúng ta rất hay, nhưng nhặt ra, cấu trúc lại sao cho không bị lỗi từ chân đến thiện và mỹ, vẫn lan tỏa đến người thưởng ngoạn, chạm được những trăn trở của người cùng thời là điều khó nhất của người biên kịch. Khi cùng viết kịch bản, đạo diễn Leon và tôi đồng thuận nhiều và tranh cãi cũng lắm. Khi viết “Song Lang”, chúng tôi cứ lo thiên hạ liên tưởng đến phim “Happy together” của Vương Gia Vệ, nhưng khi phim ra, nhiều người lại cho là nó gợi nhớ đến “Bá Vương biệt cơ” của Trần Khải Ca. Sau khi chọn câu chuyện “Quán Kỳ Nam”, điều Leon thấy trước, là thế nào cũng sẽ bị la lên giống “Tâm trạng khi yêu” của họ Vương. Chính tôi là người đề nghị cứ chân thành và hồn nhiên kể câu chuyện của mình đi, nếu cứ mãi lo xa kiểu đó sẽ không thể hoàn tất một kịch bản đã thay đổi quá nhiều từ lúc khởi viết.
Khi viết “Quán Kỳ Nam”, có khoảnh khắc nào của nhân vật khiến chị phải thay đổi hướng của câu chuyện?
Theo cốt kịch bản ban đầu, đạo diễn Leon đã kể nhiều về hình ảnh của người phụ nữ ở cùng chung cư Tôn Thất Đạm. Thực tế thì trong 7 năm, chúng tôi đã soạn khá nhiều cốt truyện phim, trong đó có cả một kịch bản xoay quanh một gia đình làm xiếc. Còn nhân vật nữ chính có lúc tên Quỳnh, còn định đưa lên quay ở Đà Lạt với Kim Lý và mời một nữ diễn viên từ hải ngoại về đóng. Một lần ra Hà Nội, mê phố cổ Hà Nội, phim suýt có tên Ngõ Tạm Thương. Cuối cùng chúng tôi nhận ra phải về lại thành phố mình đã sống nhiều với nó mới nói lên phần nào một lát cắt đa sắc thời hậu chiến như một quà tặng cho những người bạn trẻ để họ hiểu hơn cha mẹ ông bà mình đã từng sống như vậy. Có lúc kịch bản này còn để nhân vật nam chính là một người Anh.
Chị có bao giờ thấy bản thân bị ràng buộc bởi chính trải nghiệm giới của mình, hay ngược lại có lúc nào chị thấy được tự do nhất?
Trói tay lớn nhất khi cầm bút của tôi không phải ở điện ảnh hay sân khấu mà nằm ở văn học, nhất là sau khi lập gia đình. Tôi được trao tặng những mẩu chuyện cực hay từ chính bạn bè và người quen, nhiều lúc tôi phải chùn tay vì cứ ngại bị đánh đồng đó là chuyện thật từ chính mình. Khi bước qua tuổi thất thập, tôi hy vọng mình được hạnh phúc khi sáng tạo các nhân vật của mình. Đó chính là tự do!
Nhiều năm làm nghề, chị đã chứng kiến sự thay đổi của điện ảnh Việt, theo chị điều gì còn thiếu để hình ảnh người phụ nữ trong phim đa dạng và sâu sắc, cá tính hơn?
Nhiều nước ở châu Á đã đưa vào phim những mẫu hình phụ nữ đa dạng, sâu sắc và cá tính hơn ngày trước. Phụ nữ Việt còn nhiều chuyện đời khắc nghiệt và kinh khủng hơn, nhưng có lẽ mình chưa đủ điều kiện để khai thác. Đành phải nhắc lại lời anh Nguyễn Huy Thiệp, rằng ta nên luôn có bốn điều cần nhắc tới trong văn hóa văn nghệ là quyền lực, tiền bạc, tôn giáo và tình yêu. Khi nhắc ý này trong một tham luận tôi đọc tại “Hội nghị viết kịch toàn thế giới” lần thứ 6 tại Indonesia, đồng nghiệp từ các nước khác rất “thấm thía” với thủ phạm cuối trói tay ta bằng kiểu “lạt mềm, buộc chặt”: Tình Yêu! Phải, ngay cả những nữ tác giả đến từ các nước Hồi giáo còn phải đấu tranh với chiếc mạng che mặt, vẫn nhận ra điều đó.
Trong phim có những chi tiết về văn học và nghệ thuật như sự xuất hiện của nhà thơ Bùi Giáng, nhà văn Albert Camus, hay bộ phim “Matxcova không tin vào nước mắt”… Những lựa chọn đó do chị hay Leon đưa vào?
Bùi Giáng, người mà tôi đã mời được vào phim “Một cõi đi về” do tôi viết kịch bản năm 1991, người cùng một nhà sư ở Đà Lạt đã tặng tôi những vần thơ viết tay, người thoắt hiện, thoắt biến như 2 câu thơ của ông: “Sài Gòn, Chợ Lớn rong chơi/ Đi lên đi xuống đã đời du côn”… thì còn ai xứng đáng hơn khi kéo ông có mặt lúc gần kết phim. Cũng Bùi Giáng đã mở đầu lời tựa cho bản dịch “Ngộ Nhận” (Le Malentendu) của Albert Camus: “Một người bản chất rất gần Lão Trang, mà phải làm văn nghệ, viết văn gần theo điệu Nietzsche để nêu một vấn đề tư tưởng với xã hội Âu Châu. Đại khái trường hợp Camus là như vậy…”. Trước khi đưa “Matxcova không tin vào nước mắt” vào phim, lẽ ra chúng tôi đưa Kỳ Nam, Khang và Su đến 5B Võ Văn Tần, nơi có vở “Dư luận quần chúng” do Leon thích ký ức khi đến rạp. Nói chung, những chi tiết văn hóa, văn học được đưa vào vì đó là chất xúc tác nối những con người mới thoáng gặp nhau để dễ hiểu nhau hơn.
Gần đây chị sáng tác rất nhiều, bận rộn liên tục, làm thế nào để không làm chị stress hay bị lẫn lộn?
Điều đáng sợ nhất với tôi, là bị trôi vào những dự án ảo, mất công sức và thời gian mà cuối cùng dự án không thể tiến hành. Vẫn biết cách hay nhất là phải có ký hợp đồng và nhận thù lao đúng tiến độ để hai bên cùng có trách nhiệm với nhau, nhưng hiện gần như tôi chưa nhận được hợp đồng nào trong tay cho tất cả dự án đang tham gia. Kịch bản “Song Lang” và “Quán Kỳ Nam” đều ra đời khi tôi và Leon chưa biết ai sẽ đầu tư và sản xuất nên chưa có hợp đồng và chưa biết mình sẽ “được” gì từ đó. Có lẽ do tôi chỉ nhận làm những dự án mình thích chứ không vì tiếng và tiền. Hiện nay, chỉ có một dự án tôi không cần phải cam kết bảo mật, đó là chuyện một thiếu niên bất ngờ biết cuộc đời mình được dựng trên một lời nói dối, mẹ ruột cậu hóa ra là một người đồng tính nữ, rời nhà vì bị gia đình kỳ thị, trôi dạt tới một ổ điếm. Cậu đã ra đời ở đó và không ai có thể xác định cha cậu là ai.
Chị có thể chia sẻ những kinh nghiệm khi viết với các bạn trẻ?
Tôi luôn khuyên những sinh viên của mình là nên cố gắng “không đụng hàng” khi sáng tác, còn bằng cách nào là bản lĩnh của mỗi người. Có người sợ bị ảnh hưởng nên “né” không dám đọc và xem nhiều, có người thì ngược lại. Chúng ta đang sống trong thời mà chuyện chia sẻ được tác phẩm không khó. Còn việc có được công nhận hay không thì cần có nhiều yếu tố khách quan. Có người thực hiện song song hai giai đoạn sáng tác và tiêu thụ tác phẩm; cũng có người tách đôi ra trước và sau. Chưa kể nhiều người còn phải viết theo đơn đặt hàng. Các bạn đừng quên: Khác với văn học, sân khấu và điện ảnh là loại nghệ thuật tổng hợp, nên sáng tác ở đây còn có nhiều bàn tay góp vào như một kiểu sáng tác tập thể. Trạng thái tự do và ý thức khai phóng bao giờ cũng cần - nhưng chưa bao giờ đủ - cho một người làm công việc sáng tạo.
Điều gì giúp chị luôn giữ được nguồn năng lượng để làm nhiều dự án tới vậy?
Những người làm nghề viết hay đạo diễn, điều khiến họ e ngại nhất không phải những lời khen hay chê, mà là việc chỉ được khen xinh, khen đẹp. Tôi đã bị đi cấp cứu một lần, nên hiện giờ, tôi bị cắt bớt giờ thức khuya làm việc. Như nhiều ông chồng khác, mỗi lần có cuộc gọi từ Việt Nam trúng giờ “off-phone”, ông xã tôi thường xin số điện thoại đó để bảo họ “sang đây đưa em đi nhà thương”. Hạnh phúc trong ngày của tôi rất đơn giản, đó là những lúc trời không lạnh để có thể đi bộ ngoài công viên, ra bờ hồ và ngó chim, mây, cây, cỏ để hiểu hơn quy luật của đất, trời.
Chị có buồn không khi một bộ phim chị tham gia đồng biên kịch, lại phải rời các rạp chiếu sớm?
Một tác phẩm khi ra rạp, sẽ có nhiều luồng dư luận trái chiều, đó cũng là chuyện tất yếu sẽ xảy ra. Khi viết vở kịch “Giữa đá và cỏ”, đặt vấn đề chưa chắc những người đi trước hay đứng trên bục giảng là đúng, thì tôi đã từng có trải nghiệm này, vì điều này mà tôi bị đuổi học khi đang học năm cuối ở trường trung học Phan Bội Châu, Phan Thiết. Buồn, không phải là một động từ tích cực để tiếp tục chăm sóc các tác phẩm khác. Trải qua những mất mát, ngộ nhận, bị phản bội, từng diễn khi chỉ có đúng một khán giả, tôi hiểu hơn: “Cái gì của mình, nó vẫn sẽ là của mình”. Những đứa con tinh thần và khán giả, độc giả cũng vậy, tất cả sẽ như nước, đến rồi đi. Somerset Maugham đã viết: “Thảm kịch của tình yêu, không phải là sự chia phôi hay sự chết, mà là sự dửng dưng”. Giờ thì với người đã cạn giờ để sáng tác như tôi, không được để “sự dửng dưng” lẫn lời khen, lời chê, những lời tiêu cực tác động đến những việc làm còn dang dở, bởi những nhân vật thúc bách đòi được ra đời.
Chị bận rộn với rất nhiều công việc, chị làm thế nào để giữ lửa gia đình?
Muốn giữ được bếp ấm gia đình thì một đôi tay không đủ mà phải góp vào bằng hai đôi tay. Còn làm cách nào để mình (hay bạn đời của mình) đừng phải giữ lửa một mình thì đó là một nghệ thuật tương tác không có khuôn mẫu, cộng thêm phước phần hên xui của từng người. Nhưng cuộc sống chung nào cũng nên tạo điều kiện cho nhau có những khoảng lặng riêng để được là chính mình, theo tôi đó mới thật sự là độc lập, tự do và hạnh phúc cho phụ nữ chúng ta.
Giờ là tháng 12, tháng khép lại một năm, nhìn lại, năm nay của chị đọng lại điều gì?
Đối với một người viết, còn sáng tác, là còn không yên, còn xao xuyến. Sự không yên ấy kéo dài từ tháng Giêng tới tháng Chạp, để rồi nhiều khi lại ước ao giá như năm nào cũng có thêm một tháng 13. Câu tâm niệm hằng ngày của tôi là: “Ngọc, hết giờ rồi! Đừng bao đồng nữa, hãy hoàn tất giấc mơ của mày đi!”.
Năm 2025, thấy bao người thân, người quen vướng bệnh hiểm, bỏ cuộc trước mình, tôi lại tự nhắc thêm, mình có thể ra đi bất cứ lúc nào và bất kể thời thế có biến động ra sao, không nên tiếp tục thất hứa với chính mình nữa, đó là chưa kể, còn lời hứa viết cho một thế hệ chưa sinh. Một người bạn đề nghị tôi nên ưu tiên cho việc viết cuốn “Chuyện của Ngọc!”. Đang quá nhiều dự án và tôi cũng rối bời với những deadline.
“Hãy hoàn tất giấc mơ của mình”
- Xin cảm ơn và chúc chị một điều như vậy!


