Sáng 26 tháng Chạp, hiên nhà bà Hồng Sang (50 tuổi, xã Vĩnh Mỹ, tỉnh Cà Mau) rộn ràng tiếng cười nói. Theo nếp nhà suốt 3 đời nay, đây là ngày hội gói bánh tét của gia đình bà và xóm giềng. Chẳng ai bảo ai, người mang nếp, người bưng nồi thịt mỡ, người vác buồng chuối chín… góp vào một mẻ bánh chung.
Để có được những đòn bánh thơm ngon, khâu chuẩn bị nhân bánh được các bà, các chị chăm chút từ sáng sớm. Ngoài bánh tét nhân ngọt, nhân đậu mỡ, còn có nhân chuối đặc trưng vùng sông nước… Những nải chuối xiêm được bà Sang chọn kỹ, phải là loại chín muồi, vỏ thâm nhưng ruột săn chắc, khi nấu chín mới lên màu đỏ sẫm tự nhiên và vị ngọt mật đậm đà. Phần nếp cũng công phu không kém, được vo sạch, để ráo rồi xào với nước cốt dừa đặc kẹo. Bà Sang vừa đảo đều tay, vừa thêm chút muối, chút đường cho hạt nếp béo ngậy, bóng bẩy. Khi nếp vừa ngậm đủ nước cốt, bà mới trộn những hạt đậu đen đã luộc chín mềm, tạo nên sự hòa quyện giữa vị béo, vị bùi và vị ngọt nhẹ.
Bà Út (76 tuổi), người lớn tuổi nhất xóm, ngồi trên bộ ván gõ trong vai trò “tổng chỉ huy”. Đôi tay đầy đồi mồi của bà thoăn thoắt xếp lá, dàn nếp. Bà dặn con cháu: “Mấy đứa bây gói cho chặt tay nghe! Lỏng tay là bánh bung, xấu mặt thím đó!”.
Giữa không gian đượm mùi chuối, đậu, bà Kim Phượng - chị dâu của bà Sang - cười xòa: “Bây giờ ra chợ cái gì cũng có, nhưng chị em tôi thích tự gói hơn. Vừa làm vừa kể chuyện chồng con, vừa nhắc lại tết ngày xưa”. Năm nay, nhóm có thêm bà Hai Cường, người mới chuyển đến xóm. Ngồi vào vòng tròn hội bánh, bà xúc động: “Mọi người xúm xít, thân tình, tôi thấy gần gũi như về nhà mình vậy”. Bà Sang kể, mẹ chồng bà là người trọng lễ nghĩa ngày tết, phong tục nào rườm rà bà có thể cho qua, nhưng gói bánh tết nhất định phải giữ, vì đây là dịp thắt chặt tình cảm gia đình, gắn kết tình nghĩa xóm làng.
Mỗi độ tháng Chạp chạm ngõ, khi nắng ươm vàng cùng không khí se lạnh len qua mái nhà phố núi, bà Nguyễn Thị Quýt (phường Bắc Gia Nghĩa, tỉnh Lâm Đồng) mở chiếc hộp bột đã được cất giữ cẩn thận từ năm trước. Đó là bột mì tinh mà bà nâng niu như của để dành, như một phần ký ức của tết Huế. Bà mang bột ra phơi nắng, phải là cơn nắng vàng ươm để đánh thức mùi thơm rất riêng của bột.
Ông Nguyễn Văn Lộc - chồng bà Quýt - ngắm người vợ đảm đang rồi lấy điện thoại nhắn vào nhóm Zalo gia đình: “Mạ tụi con đang chuẩn bị bột đổ bánh thuẫn”. Và rồi, hàng loạt tin nhắn từ con cháu gửi đến nhóm. Người chị cả Nguyễn Thị Ngọc hào hứng: “Xuân đã về, để bé thu xếp thời gian qua đổ bánh cùng mạ”. Những đứa con khác lập nghiệp xa nhà, không về phụ được thì tranh thủ đặt hàng: “Mạ đổ cho con 300 bánh nha, mấy người bạn mong bánh của mạ lắm đó”…
Quạt lửa đều tay, giữ đủ lửa trên và dưới là nghệ thuật góp phần để bánh thuẫn nở bung, nở đều, bánh lên màu đẹp - ẢNH: AN HÀ
Hơn nửa đời người gắn bó với bánh, bà Quýt rút ra bí quyết: Muốn bánh thuẫn nở như hoa mai, mềm mịn tan trong miệng, thì phải là bột mì tinh nguyên chất 100%, được để đúng 2 năm, mỗi năm đều mang ra phơi nắng. “Phải nắng đúng độ thì bột mới dậy mùi, bánh mới… có hồn” - bà nói.
Năm nào cũng vậy, công đoạn trộn bột, đánh trứng do chồng bà Quýt đảm nhiệm. Ông kể “Hồi đó việc đánh bột hoàn toàn bằng tay, đánh xong 2 thau bột, 2 cánh tay mỏi nhừ, tê dại”. Giờ đây có máy đánh bột, công việc nhẹ hơn, nhưng mỗi lần nhìn bột quyện mịn trong thau, ông nhớ những mùa tết cũ - nơi mồ hôi thấm vào từng mẻ bánh, đổi lại là tiếng cười và sự háo hức của con cháu.
Con cháu quây quần bên vợ chồng bà Quýt trong ngày tết - ẢNH: AN HÀ
Bên cạnh bà Quýt, người gắn bó và thấu hiểu nhất từng nếp tết xưa của gia đình là chị Nguyễn Thị Ngọc. Chị Ngọc tâm sự, từ nhỏ đã quen với hình ảnh mẹ chị tất bật lo tết. Khi ấy, bà Quýt làm đủ thứ bánh: bánh thuẫn, bánh in, bánh hạt sen, bánh cà rốt, rồi bánh chưng, bánh tét, mứt dừa, mứt bí… Bà Quýt bảo, một phần để dâng lên ông bà tổ tiên, phần còn lại để con cháu có món ngon ngày tết.
Những người bạn thân của chị Ngọc rủ nhau đến phụ làm bánh. “Để ăn ké không khí tết, ngồi bên bếp than nghe bà mẹ Huế kể chuyện xưa, để chụp vài tấm ảnh lưu lại những khoảnh khắc rất tết” - chị Hà - bạn thân của chị Ngọc chia sẻ. Cô con gái út của bà Quýt hiện làm việc trong lĩnh vực ngân hàng tại TPHCM. Mỗi dịp tết, cô vẫn chọn bánh thuẫn của mẹ để làm quà gửi đi khắp nơi.
Trong cái lạnh của phố núi, bên lò than hồng rực, bà Quýt cùng cô con gái lớn miệt mài ngồi đổ bánh. Ngoài sân, mấy đứa cháu nhỏ chạy nhảy vui đùa, thỉnh thoảng chạy vào xin bánh rồi chia nhau ăn trong niềm hạnh phúc trẻ thơ. Những chiếc bánh thuẫn nở hoa vàng ươm như nụ cười của bà Quýt.
Cuối năm, Sài Gòn cuộn mình trong nhịp sống hối hả, gấp gáp như đang chạy đua với thời gian. Thế nhưng, tách khỏi ồn ào ấy, trong khoảng sân nhỏ của một ngôi nhà trên đường Tô Hiến Thành, TPHCM, lại có một không khí khác biệt. Ở đó, bếp than hồng đỏ lửa từ ngày 28 qua đến 29 tết, âm ỉ tỏa ra mùi thơm nồng ấm của củi bếp quyện cùng gừng, thảo quả và nồi bò kho nước tương đang sôi chậm rãi. Đó là nơi mẹ con bà Trịnh Thị Ngân và chị Lê Thị Thục Oanh lặng lẽ gìn giữ nếp tết gia đình, qua từng bữa ăn, từng hơi ấm quen thuộc.
Sáng sớm 28 tết, bà Ngân đi chợ, lựa từng miếng thịt, từng gia vị cho món bò kho nước tương - món ăn gắn bó với bà từ những ngày đầu về làm dâu. Vẫn là hương vị cũ của tết xưa, nhưng trong cách nấu có thêm một chút biến tấu: thay vì bò bắp, bà chọn bò nạm để nồi bò kho có độ béo nhẹ, mềm mịn và đằm hơn.
“Mẹ chọn mua cả tảng thịt lớn, xẻ một đường ở giữa rồi nhét vào đó miếng mỡ heo cùng hành tím, tỏi băm; dùng dây lạt buộc chặt, đem ướp tiêu, đường và nước tương. 1 ký thịt bò sẽ kèm 3 lạng mỡ heo" - chị Oanh kể.
Chị Oanh và mẹ trong ngày đầu năm mới - ẢNH: THỤC OANH
Bà Ngân chia sẻ bí kíp: “Đầu tiên đem thịt đun trên lửa lớn trong 30 phút rồi hạ lửa riu riu và liên tục canh chừng. Nấu món này không vội được, luôn canh lửa sao cho đáy nồi không khét; thỉnh thoảng dùng đôi đũa cả nhấc nhẹ tảng thịt lên để nước lách vào giữa, như thế thịt mới mềm mà không cháy, cứ như vậy liên tục trong vài giờ thì món bò mới đạt yêu cầu”.
Nhìn mẹ chăm chút bên bếp lửa, chị Oanh hiểu rằng bò kho nước tương còn hơn cả một món ăn. Món bò này nấu từ 28 tết và nấu lâu như vậy, nhưng phải đợi đến tận mùng Ba, khi cúng tiễn ông bà xong mới được chạm đũa. Đó là món ăn “về đích” muộn nhất, khiến các cô chú và đám em họ của chị Oanh phải xuýt xoa chờ đợi. Hình ảnh nồi bò kho ăn kèm với bắp cải luộc và cơm trắng đã trở thành một phần tết của gia đình, đến mức một người bạn của chị từ Mỹ về ăn một lần mà nhắc suốt bao năm.
Khi nồi bò kho của bà Ngân bắt đầu chín là lúc chị Oanh bắt tay vào nồi chè kho - món truyền thống từ nhà ngoại - vào ngày 29 tết. Chị Oanh cười vui: “Nấu chè kho không khó, nhưng cần một đôi tay và cơ vai mạnh mẽ của người tập gym thường xuyên”. Chị Oanh đứng bên bếp, đôi tay chuyển động liên tục không ngừng nghỉ trên nồi chè bởi chỉ cần lơi tay một giây là chè khét.
món chè kho của nhà chị Oanh
Một bí mật khác tạo nên sự khác biệt của món chè kho nằm ở phần hương thơm được tạo nên từ những trái thảo quả vùi trong lớp tro than đỏ. Thảo quả đem nướng sơ cho dậy mùi thơm, đem giã nát, hòa với nước và cho vào nồi chè lúc đậu và đường thẻ đã “kết đôi”.
Với chị Oanh, duy trì món chè kho cho ngày tết không chỉ để ăn, mà để sưởi ấm căn bếp và kết nối tình thân. Khoảnh khắc hoàn thành nồi chè, cho ra đĩa và tranh thủ “vét chảo” là lúc cảm giác tết trọn vẹn nhất. Sáng mùng Một, gia đình chị Oanh vẫn giữ nếp ăn chè kho với bánh chưng nhân mặn. Sự kết hợp này nghe có vẻ “choảng nhau”, nhưng lại hài hòa lạ kỳ trong tâm thức của những người gìn giữ cho xuân luôn nồng ấm, đoàn viên.
Cuộc sống hiện đại khiến nhiều phong tục xưa, phong vị tết cũ dần phai, nhưng tại xã Long Kiến, tỉnh An Giang, ngôi nhà của cụ Lê Thị Chiêm, 92 tuổi như một chiếc hộp thời gian lưu trọn vẹn nếp tết xưa.
Bao năm nay, sau ngày cúng đưa ông Táo về trời, cụ Chiêm khiêng bộ lư đồng ra sân, tự tay đánh bóng. Cụ lấy tro trấu, vắt thêm chanh và pha chút xà bông, ngồi tỉ mẩn đánh bóng từng chút một cho đến khi bộ lư sáng lấp lánh dưới nắng xuân. “Còn bà Tám là còn thấy tết ngày xưa” - chị hàng xóm Nguyễn Thị Linh - nói vang từ bên chái nhà.
Với mong muốn giữ trọn không khí tết xưa cho con cháu, những ngày cuối năm, cụ Chiêm luôn nhắc “gạo phải đầy lu, nước phải đầy hồ” bởi theo cụ thì cuối năm đủ đầy thì một năm sẽ ấm no, còn “nhà cửa phải tinh tươm để ông bà về sum họp, tài lộc theo đó mà ghé thăm. Mùng Một tết là ngày nghỉ ngơi trọn vẹn, chỉ nói lời tốt lành, tránh cãi vã, kiêng quét nhà, giặt giũ…”.
Chỉ tay về chiếc cối to đang úp ngược gần chái bếp, cụ cười, nhớ lại: “Tết năm nào tía má tui cũng quết bánh phồng, 4-5 nhà hùn lại làm. Chồng giã chày, vợ ngồi bên cối trở bột, vui và đầm ấm lắm”.
4 thế hệ nhà cụ Lê Thị Chiêm sum vầy tết - ẢNH: THÙY DƯƠNG
Chị Đặng Thị Vẹn - con gái lớn của cụ - kể rằng suốt chục năm qua, đúng 5 giờ sáng mùng Một, má chị đã thức dậy pha trà, bày bánh mứt và thắp nhang khấn nguyện ông bà. Nghiêm cẩn trong nếp xưa là vậy nhưng cụ Chiêm lại cởi mở trong tục xông đất. Cụ không kén tuổi, ai ghé nhà cũng được đón tiếp ân cần, bởi theo cụ thì “người ta đến là mang duyên, mang lộc cho nhà mình”.
Anh Đặng Quốc Huy - cháu nội cụ Chiêm - thú nhận thuở nhỏ từng thấy những lễ nghi cúng kiếng của bà nội khá rườm rà. Thế nhưng, khi trưởng thành, lập gia đình riêng, anh mới cảm nhận trọn vẹn sự thiêng liêng của khoảnh khắc giao thừa - lúc cả nhà quây quần bên bàn thờ tổ tiên, nơi neo giữ những ký ức tết đẹp đẽ”. Bé Muối - con gái anh Huy - mới 7 tuổi, đã có “thâm niên” 5 năm cúng giao thừa cùng bà cố. Nếp nhà cứ thế được trao truyền, lan tỏa và rực ấm trong lòng mỗi thành viên.


