Ở phường Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắc, đi qua đường Y Ngông - con đường mang tên cha nhà nghiên cứu văn hóa Linh Nga Niê Kdam - chừng trăm mét rồi quẹo vào hẻm nhỏ là đến ngôi nhà đơn sơ của bà. Trong ngôi nhà tứ bề sách vở, dưới giàn hoa giấy trắng, người đàn bà Êđê tóc tém mang nụ cười trẻ thơ, hồn hậu ấy đang sống những ngày tháng như một hành trình trả nợ dài.
“Cha tôi là bác sĩ, nhà giáo nhân dân, từng làm Thứ trưởng Bộ Giáo dục (nay là Bộ Giáo dục - Đào tạo), Đại biểu Quốc hội suốt chín khóa liên tiếp. Chưa bao giờ ông quên mình là con của buôn làng. Cả đời ông sống và làm tất cả vì đồng bào Tây Nguyên. Trước tấm gương lớn là cha, tôi càng thấy mình phải có trách nhiệm với cộng đồng”, bà Linh Nga kể.
Lời dặn ấy của cha như hạt giống gieo vào tâm hồn thơ bé. Từ năm 1966, với vai trò ca sĩ trong Đoàn ca múa Tây Nguyên, Linh Nga Niê Kdam như con chim sơn ca của núi rừng đem tiếng hát thiên phú đi khắp mọi miền Tổ quốc. Bảy năm học thanh nhạc ở Nhạc viện Hà Nội, năm năm học tiếp đại học chuyên ngành sáng tác. Nhưng âm nhạc thực sự của bà không nằm trong khuôn nhạc trên giấy.
Lần đầu tiên đến huyện M’Đrăk (cũ) quê nhà, bà thấy một phụ nữ trung tuổi mang lên bó cọng rạ tươi. Bà ấy ngắt sáu cái đưa cho sáu người đàn bà và nói: “Được rồi đấy”. Sáu người đàn bà thổi sáu cọng rạ thành một bản nhạc. “Mọi người đều sững sờ. Sau đó bà lại lấy sáu cái chai đổ sáu mực nước đầy vơi khác nhau để sáu người ghé miệng thổi, và lại thành một bản nhạc. Kỳ lạ và đặc biệt quá sức tưởng tượng!” - bà Linh Nga kể, không giấu được niềm vui lấp láy trong mắt.
Nhưng câu chuyện về cội nguồn của bà không bắt đầu từ những điều kỳ diệu ấy. Nó bắt đầu từ một buổi chiều năm 1975, khi người con gái lần đầu tiên đặt chân về buôn Ea Sút - mảnh đất mà cha bà đã rời xa hai mươi năm chưa một lần gặp lại.
Hôm ấy, con đường đất bazan đỏ au phủ đầy hoa muồng vàng như tấm thảm dẫn lối cô gái hai mươi bảy tuổi về nhà.
Tất cả đều lạ lẫm - những ngôi nhà sàn, mùi rượu cần, tiếng chiêng vang, cái mẹt đựng quà - nhưng lại thân thương lạ thường. Như thể ký ức tổ tiên đang thức giấc trong huyết quản cô con gái của Y Ngông.
Năm 1979, bà cùng chồng con về Tây Nguyên. Họ là những người thầy đầu tiên của Trường Trung cấp Văn hóa Nghệ thuật Đắk Lắk, bà dạy nhạc, ông dạy múa. Bà bảo cả tuổi trẻ sống ở thủ đô, nhưng khi trở về, bà không thấy mình đang rời xa điều gì.
“Tôi không thấy có thay đổi nào cả. Vì ở Hà Nội tôi học nhạc, về Tây Nguyên cũng làm về âm nhạc. Tôi sống với không gian âm nhạc và không bị ảnh hưởng nhiều bởi không gian địa lý” - bà nói, giọng nhẹ nhàng.
Nhưng có lẽ đó chỉ là lời nói khiêm tốn. Chính không gian Tây Nguyên - với núi rừng, chiêng gõ, buôn làng - đã kéo bà trở về với cội nguồn. Không phải cội nguồn của một cá nhân, mà của cả một nền văn hóa khi đó đang dần phai.
Bà thừa nhận: “Trở lại Tây Nguyên năm 1979, tôi mới phát hiện ra, về văn hóa dân gian, mình là một đứa học trò ngu ngơ”.
Nhà nghiên cứu văn hóa Linh Nga Niê Kdam (bìa phải) trong một chuyến điền dã
Năm 1980, nhà nước có chủ trương sưu tầm văn hóa Tây Nguyên. Bà tham gia theo phân công của cơ quan, nhưng rồi đi tới đâu cũng thấy hay, nên say sưa nghiên cứu đến tận bây giờ - gần năm mươi năm.
Bà Linh Nga như người được Giàng ban cho đặc ân: sinh ra trong không gian văn hóa miền núi phía Bắc, lớn lên trong nền văn hóa đồng bằng Bắc Bộ, trở về với cội nguồn văn hóa Tây Nguyên và được đằm mình trong nguyên sơ văn hóa Khmer quê chồng. Bà bảo mình đã được hưởng trọn vẹn những gì trong trẻo nhất của văn hóa ba miền.
Ở Tuyên Quang, người Tày kiêng việc phụ nữ sinh nở trong nhà sàn nên dựng cho mẹ bà một nhà sàn riêng. Khi sinh ra bà, nhau thai theo phong tục được bỏ vào ống nứa rồi treo lên cây. Nhiều năm sau, bà hỏi vui ông cụ chủ nhà: “Ông có nhớ cái cây treo cuống rốn của con là cây nào không?”. Ông cụ móm mém: “Cha mày, làm sao tao nhớ được”. Cả nhà cười rộ.
Trong cái nôi văn hóa sông Hồng, bà có những đêm ngồi canh quan họ từ chập tối đến sáng. Ngày ấy Bắc Ninh đang mùa gặt, khắp nơi thơm mùi rơm mới. Bà con gọi nhau qua hàng rào: “Đi gặt về thì sang nhé, có khách Hà Nội lên đấy”. Tối đến trải chiếu giữa sân, mọi người quây quần bên ấm chè xanh, hát dưới ánh trăng, hát say sưa đến cuối giờ tý (1g sáng) mới quyến luyến “giã bạn”.
Rồi văn hóa Khmer Sóc Trăng quê chồng - ngày Tết ra chùa xem hát, xem đóng kịch. Nhìn bà con ngồi dưới há hốc miệng xem, bà thấy hạnh phúc. Đặc biệt là họ vẫn hát những bài cổ truyền bằng tiếng Khmer. Hát chán thì đứng lên múa. “Tôi cũng nhảy vào múa cùng” - bà cười - “Như thế thì làm sao mà không yêu văn hóa Việt cho được. Góc nào cũng thấy đẹp, thấy trong”.
Ba miền văn hóa đã hun đúc nên một trái tim rộng mở. Nhưng trong ba miền ấy, văn hóa trên đất tổ Tây Nguyên khiến bà thức trắng đêm lo lắng. Chỉ có văn hóa Tây Nguyên khiến trái tim bà thổn thức. Vì đó mới là cội - cội trong máu, trong gen, cội mà dù có đi xa đến đâu, học cao đến mấy, bà cũng muốn quay về để giữ gìn.
Điều đặc biệt ở bà Linh Nga là sự nhạy cảm đến mức khó tính. Một slogan sai lệch về món ăn Tây Nguyên, một ngôi nhà sàn dựng vội, hay tin một nghệ nhân ra đi - tất cả đều khiến trái tim bà trăn trở. Bà luôn lên tiếng, chỉnh sửa, bảo vệ để hình ảnh Tây Nguyên không bị giản lược, bóp méo hay quên lãng.
Không gian Văn hóa Cồng chiêng hai lần được thế giới vinh danh là Di sản văn hóa đại diện của nhân loại. Nhưng một thời, di sản ấy được gọi với cái tên rất nôm na: “Lễ hội văn hóa cồng chiêng”. Bà Linh Nga phải lên tiếng khắp các diễn đàn: Tây Nguyên chưa bao giờ có lễ hội cồng chiêng. Cồng chiêng là “phương tiện liên lạc” với thần linh trong các buổi cúng lễ.
Trong mắt bà H’ Yam Bkrông - Giám đốc Hợp tác xã Dệt thổ cẩm Tơng Bông: “Linh Nga Niê Kdam rất quan tâm đến văn hóa của các tộc người. Bà để ý từng chi tiết nhỏ nhất. Có nhiều điều về văn hóa từng dân tộc còn mơ hồ, còn là ẩn khúc, bà đều tìm tòi rồi hướng dẫn lại cho hợp tác xã, để hợp tác xã dạy chị em làm cho đúng.
Bà Linh Nga rất tình cảm, gần gũi. Bà về với buôn làng là bà con xem như người trong gia đình. Bà rất tâm huyết lo cho bà con, muốn bà con thoát nghèo và vươn lên làm giàu ngay chính quê hương”.
Với nhà nghiên cứu Linh Nga Niê Kdam, văn hóa không chỉ là công trình nghiên cứu khô khan. Nó phải hiện diện sống động trong đời sống hằng ngày. Không phải để trưng bày trong bảo tàng, mà để thở, để sống, để truyền lại cho thế hệ sau.
Đều đặn, sau lớp dạy nhạc cho thiếu nhi, bà lại dạy thanh nhạc miễn phí cho hơn chục cụ ông, cụ bà ngay tại nhà mình. Bà cũng là người kiên trì dạy thanh nhạc miễn phí cho con em dân tộc thiểu số suốt mấy chục năm nay.
Có khi, bà xuất hiện homestay của gia đình bà H’Yam Bkrông ở buôn Tơng Jú, phường Ea Kao để tư vấn, hướng dẫn, giúp bà con phát triển du lịch cộng đồng.
Hằng tuần, bất kể thời tiết, bà vẫn đi khắp buôn xa, làng gần để sưu tầm, nghiên cứu văn hóa dân gian.
Trong ngôi nhà nhỏ dưới giàn hoa giấy trắng, bà vẫn đều đặn trò chuyện với sinh viên, nhà báo, vẫn lưu giữ từng tấm ảnh, từng tập tài liệu, từng băng ghi âm giọng kể khan của nghệ nhân - như giữ gìn kho báu văn hóa của dân tộc.
Sự phát triển của kinh tế và nền văn minh kỹ trị luôn tỉ lệ nghịch với đời sống văn hóa cổ truyền - đó là quy luật tất yếu, là thực trạng chung của mọi nền văn hóa trên thế giới. Văn hóa Tây Nguyên vạm vỡ cũng không nằm ngoài. Sử thi Đam San cũng như luật tục hàng ngàn câu để gắn kết các thành viên trong cộng đồng đã đi theo người già xuống mộ.
Xót xa lắm. Nhưng không vì thế mà bà nản chí hay ngừng cống hiến.
Bà vẫn đều đặn dạy âm nhạc cho các em nhỏ
Gia đình nhạc sĩ Linh Nga, cố nghệ sĩ múa Lý Sol
“Trả nợ cho đất mẹ” như lời tự sự của bà, từ tuổi xuân đến khi tóc bạc, từ niềm vui đến nỗi lo mai một, từ đam mê nghiên cứu đến những giọt nước mắt khi chứng kiến một điệu chiêng, một lời khan dần phai theo thời gian.
Di sản bà để lại sẽ không chỉ là những công trình nghiên cứu, kho tài liệu bằng âm thanh, hình ảnh - mà còn là những đứa trẻ Êđê, M’Nông, Bahnar vẫn biết hát những bài ca cổ truyền; là những điệu chiêng vẫn vang lên đúng cách, đúng nghĩa; là cách gọi đúng tên văn hóa và sự tôn trọng từng chi tiết nhỏ nhất.
Trên những nẻo đường Tây Nguyên, hoa muồng lại nở vàng rực. Trong căn nhà nhỏ, bà Linh Nga vẫn ngồi đó. Tóc đã thẫm màu sương gió nhưng đôi mắt vẫn sáng. Tâm hồn vẫn trẻ như ngày đầu tiên đặt chân lên tấm thảm hoa muồng.
Bà vẫn còn nợ đất mẹ rất nhiều. Và may mắn, bà vẫn còn sức khỏe, vẫn còn thời gian để tiếp tục trả món nợ ấy - bằng tri thức, sự nghiêm cẩn và tình yêu sâu thẳm dành cho buôn làng. Có lẽ chính lựa chọn ấy, chứ không phải bất kỳ danh xưng nào, đã định vị một Linh Nga Niê Kdam trọn vẹn của Tây Nguyên hôm nay.
Cô giáo U80 (thứ 4 từ phải qua) và các học viên lớp thanh nhạc U60
Bà Linh Nga Niê Kdam tên thật là H’Linh Niê Kdam, nguyên Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật Đắk Lắk, nguyên Phó giám đốc thường trú Đài Tiếng nói Việt Nam tại Tây Nguyên. Bà còn là Ủy viên Ban chấp hành Hội Nhạc sĩ Việt Nam khóa 5, 6; Ủy viên Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam từ khóa 2 đến khóa 7…


