Bàn tròn trước thềm xuân mới với gia đình giáo sư, bác sĩ Nguyễn Thị Ngọc Phượng - nguyên Giám đốc Bệnh viện Từ Dũ, hiện là Phó chủ tịch Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam - sẽ đưa bạn đọc về với cội nguồn của hạnh phúc, nơi có nụ cười hòa trong tiếng khóc chào đời…

Giáo sư, bác sĩ Nguyễn Thị Ngọc Phượng sum vầy bên con gái, con rể và 2 cháu ngoại Giáo sư, bác sĩ Nguyễn Thị Ngọc Phượng sum vầy bên con gái, con rể và 2 cháu ngoại

Tôi chọn sản khoa vì nghề này hợp với tính tôi, thích mau lẹ. Sản khoa đem lại kết quả can thiệp rất nhanh, cứu 1 mà được… 2. Người mẹ đang ôm bụng đau đớn đó, chỉ cần mình kéo được đứa bé ra, nghe tiếng khóc “oa oa” là người mẹ hết đau và tươi cười rạng rỡ. Cảm giác mỗi lần đỡ đẻ, thấy một sinh linh mới ra đời, sự sống bắt đầu khiến tâm hồn mình cũng nhẹ nhàng. Đó chính là giá trị của sự khởi đầu, của cội nguồn.


Cơ duyên đến với kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm đến từ nỗi trăn trở khi khám cho nhiều phụ nữ mong con đến cháy lòng mà còn phải chịu lời chì chiết “cây độc không trái, gái độc không con”.


Năm 1980, được Bộ Y tế cử qua Thái Lan học về kế hoạch hóa gia đình, tôi đã vào thư viện đọc sách và hào hứng với những tài liệu về… hỗ trợ sinh sản, thụ tinh trong ống nghiệm (IVF). “Thế giới đã có em bé chào đời từ IVF, còn Việt Nam thì khi nào?” - tôi tự hỏi và quyết tâm bằng mọi cách phải đưa được kỹ thuật này về nước. Thời đó, việc bơm tinh trùng tươi vào buồng tử cung ẩn chứa nhiều nguy cơ. Đầu những năm 1990, ca HIV ở TPHCM xuất hiện và tôi đã kiến nghị Sở Y tế TPHCM cho ngừng phương pháp bơm tinh trùng kiểu này. 


Tôi đau đáu đi tìm giải pháp thay thế, đảm bảo nòi giống khỏe mạnh và phẩm giá người phụ nữ không bị rẻ rúng. Cơ may được mời làm giáo sư 1 năm tại Pháp (năm 1994), tôi thắt lưng buộc bụng, cắt giảm chi phí sinh hoạt để dành tiền mua tài liệu, máy móc, dụng cụ. Và Khoa Hiếm muộn tại Bệnh viện Từ Dũ đã được thành lập vài năm sau đó.

 

Từ nhỏ, 3 chị em tôi đã theo mẹ vào bệnh viện, tuổi thơ gắn với chiếc áo blouse cùng những ca trực nên tôi hầu như không có nghề nào khác để chọn ngoài ngành y (cười). 


Năm 1997, khi đang là bác sĩ nội trú sản phụ khoa, công tác tại Bệnh viện Từ Dũ, tôi có duyên may được tham gia cùng mẹ trong ê kíp hỗ trợ sinh sản đầu tiên ở Việt Nam cũng tại Bệnh viện Từ Dũ, với sự hỗ trợ của đoàn chuyên gia từ Pháp. 


Những ngày đầu triển khai IVF là khoảng thời gian vô cùng căng thẳng. Tỉ lệ thành công rất thấp, mẹ tôi và các anh chị trong ê kíp lo lắng mỗi khi bệnh nhân có kết quả thử thai âm tính. Sau khoảng 10 ca đầu tiên chưa thành công, niềm vui vỡ òa đã đến khi có trường hợp đầu tiên thử thai dương tính - một khoảnh khắc chúng tôi không thể nào quên.


Ban đầu, tôi đồng hành với mẹ như một người con phụ giúp mẹ. Nhưng chính trải nghiệm lâm sàng, sự gắn bó với bệnh nhân và niềm tin vào giá trị khoa học - nhân văn của IVF đã khiến tôi dấn thân ngày càng sâu hơn, để trở thành một người làm nghề thực sự tin vào khả năng thành công của hành trình này và gắn bó với nó như sự nghiệp của chính mình. Theo học chương trình thạc sĩ tại Trường đại học Quốc gia Singapore về IVF, tôi có điều kiện hiểu sâu hơn các cơ sở khoa học, sinh học và kỹ thuật nền tảng của lĩnh vực này, từ đó củng cố niềm tin vào con đường mình lựa chọn.

 

Với tôi, sản khoa không phải là một ước mơ chợt đến mà như đã được chọn từ trong tiềm thức. Thuở nhỏ, không ai trông giữ, tôi cũng theo bà ngoại và ba mẹ (ba là thạc sĩ, bác sĩ Hồ Mạnh Tường - PV) cùng vào bệnh viện, ngôi nhà thứ hai của cả gia đình. Bà ngoại và ba mẹ chọn sản khoa vì đó là nơi khởi đầu cho sự sống. Cảm giác thiêng liêng dâng trào trong tôi khi lần đầu tiên được vào phòng mổ, chứng kiến khoảnh khắc diệu kỳ em bé chào đời, tôi thấy công việc của bác sĩ sản khoa thực sự ý nghĩa.

 

3 mẹ con bà cháu trước khi bước vào ca mổ 3 mẹ con bà cháu trước khi bước vào ca mổ

 Tôi chưa bao giờ xem “cái bóng vĩ đại” của mẹ là một áp lực. Ngược lại, đó là cơ hội để học hỏi, tự rèn bản thân. Thay vì lo lắng về việc đứng dưới cái bóng của ai, điều quan trọng hơn là mình phải sống và làm nghề sao cho xứng đáng với những giá trị mà thế hệ đi trước đã đặt nền móng.

Tôi thừa hưởng di sản tinh thần từ mẹ là trách nhiệm với công việc và gia đình, tình yêu thương dành cho người bệnh cùng nghị lực để vượt qua khó khăn. Khi tôi khoảng 9 tuổi, mẹ tôi từng nhiều ngày liền túc trực tại bệnh viện để cứu một bệnh nhân nặng. Mẹ giải thích rằng phải cứu người phụ nữ ấy, bởi cô ấy còn những đứa con nhỏ mà lại là con gái. Con gái không có mẹ bên cạnh thì rất khổ. Những câu chuyện giản dị ấy đã nuôi dưỡng tình yêu nghề y trong tôi.

 

Với tôi, cái bóng nếu có của ông bà, ba mẹ không phải là sự bao trùm nghẹt thở mà là bóng râm của sự tự hào, cho tôi động lực để bước đi, để nghỉ chân và bước tiếp. Tôi cảm nhận rõ sự may mắn của mình. Những thử thách hôm nay với tôi không nhỏ và truyền thống gia đình sẽ tiếp thêm nhiên liệu cho tôi vững vàng trên hành trình phía trước. 

 

Không biết có phải là áp lực với chính mình hay không, tôi chỉ có một yêu cầu duy nhất: đã là bác sĩ thì phải giỏi, vì bác sĩ quyết định tới sức khỏe và sinh mạng của người khác. Tôi cũng luôn dặn dò con cháu và các bác sĩ trẻ như vậy.


Tôi may mắn khi gia đình luôn sát cánh, tiếp sức để tôi vượt qua những thử thách cuộc sống và trên hành trình cống hiến cho sự nghiệp. Những ngày đầu, gia đình tôi rất thiếu thốn, vất vả trong căn nhà dột, chắp vá. Sau này, cơ quan thương hoàn cảnh tôi quá khó khăn nên đã đề xuất thành phố cấp nhà. 


Tôi đi công tác tỉnh, 3 đứa con gái nhỏ phải tự chăm nhau, tự luộc rau, dầm trứng ăn cơm, tự nhắc nhở học hành, thậm chí phải đưa nhau vào bệnh viện vì cả 3 cùng bị sốt xuất huyết. Có lúc vì trực đêm, đi dạy và nghiên cứu khoa học, tôi đuối quá, chạy xe đạp và té nhào giữa đường rồi tựa vào xe mà ngủ thiếp đi cho đến khi có người đi đường lay dậy… 


Tôi từng rơi nước mắt mừng vui khi chứng kiến Ngọc Lan bản lĩnh, rành rọt thuyết trình tham luận lần đầu ở một hội thảo quốc tế. Tôi cũng đỏ mắt như thế khi nghe Ngọc Lan đọc lá thư của một gia đình nghèo ở miền Tây thú thật rằng đã bán lứa heo để làm IVF lần thứ hai, quyết tâm tìm con. 2 mẹ con bàn cách giúp đỡ và tôi đã trình bày với bệnh viện để miễn phí cho bệnh nhân này. Tôi vẫn nhớ ca mổ lấy thai, mẹ con tôi cùng đón đứa con đầu lòng cho nữ bệnh nhân ấy, 2 tiếng cảm ơn mộc mạc, cái ôm đơn sơ mà gói trọn ý nghĩa. Tôi vui vì con điều trị thành công ca hiếm muộn một, mà vui vì con biết thương bệnh nhân đến mười. Cái tâm rộng mở, trái tim “từ mẫu” nơi người thầy thuốc là điều không thể học ở trường lớp nào.

 

3 thế hệ bác sĩ sản khoa của gia đình giáo sư, bác sĩ Nguyễn Thị Ngọc Phượng trong một ca đỡ sinh

3 thế hệ bác sĩ sản khoa của gia đình giáo sư, bác sĩ Nguyễn Thị Ngọc Phượng trong một ca đỡ sinh

Gia đình 3 thế hệ làm nghề y của chúng tôi nhìn chung rất hòa khí. Tuy nhiên, những khác biệt quan điểm về chuyên môn hay cách nhìn cuộc sống là điều không thể tránh khỏi. Khi có bất đồng, chúng tôi quay về một nguyên tắc chung: giải pháp nào mang lại lợi ích tốt nhất cho người bệnh. Trong từng vấn đề cụ thể, ai có thế mạnh và kinh nghiệm sâu hơn ở lĩnh vực đó - mẹ tôi, tôi hay chồng tôi - thì ý kiến của người đó sẽ được cân nhắc với trọng lượng lớn hơn.


Dù còn trẻ và đang là bác sĩ nội trú sản phụ khoa, ý kiến của con tôi vẫn luôn được bà và ba mẹ lắng nghe. Khi có điểm chưa phù hợp, chúng tôi chọn cách đối thoại, giải thích và trao đổi, thay vì áp đặt. 


Tôi xem vai trò của mình như nhịp cầu kết nối: vừa tiếp nhận những giá trị truyền thống đã được các thế hệ tiên phong dày công vun đắp, vừa cùng thế hệ trẻ cập nhật, ứng dụng các tiến bộ công nghệ một cách có chọn lọc, nhân văn và trách nhiệm. 

 

Dù là ai, tôi cũng phải lùi lại và tôn trọng giới trẻ, phải tiếp thu cái mới và công nhận năng lực của thế hệ kế thừa. Thời của mình còn nhiều thiếu thốn, không được tiếp cận các kỹ thuật hiện đại như bây giờ nên về IVF sẽ không bằng được các thế hệ sau này. Các con cháu và những bác sĩ trẻ có điều kiện hơn nên sẽ giỏi hơn. Tôi tin như vậy.

 

Tôi may mắn được ngoại, ba mẹ… dìu dắt trong nghề, từ chuyên môn đến y đức, kinh nghiệm giao tiếp trong môi trường y khoa. Bài học của tôi trải dài từ trường lớp đến bệnh viện, trên đường đi và đến cả… bàn ăn. Sau một ngày làm việc, cả nhà kể những ca bệnh đã gặp và bàn nhau phương pháp điều trị. Cùng mục tiêu trở thành bác sĩ giỏi, giúp được nhiều bệnh nhân, nhưng là người đi sau, tôi có điều kiện tốt hơn, nguyện sẽ nỗ lực tương xứng với nền móng sẵn có của mình.

 

Trở về vì ở đây có nguồn cội, có dòng tộc, có những bệnh nhân mà mối duyên y khoa đã gắn kết lại thành gia đình; có tết cổ truyền với hoa mai, hoa đào nở, có món khổ qua nhồi thịt, nồi thịt kho hột vịt quen thuộc… Tất cả điều đó tích tụ lại thành hồn dân tộc, thành tình yêu quê nhà. Nếu có bay đi thì chỉ là những chuyến bay ngắn để mang về những vốn quý cho y khoa nước mình. 

 

Thông điệp xuyên suốt mà mẹ tôi truyền cho tôi không phải là những lời dạy lớn lao mà là một thái độ sống: hãy dấn thân hết mình, đi cho xa, học cho sâu nhưng đừng bao giờ quên mình đến từ đâu. Với mẹ, cội nguồn trước hết là gia đình, là những giá trị nền tảng của nghề y: lòng nhân ái, sự liêm chính, trách nhiệm với sự sống và với cộng đồng. Mẹ luôn tin rằng nếu nền tảng ấy đủ vững thì con người có thể đi rất xa mà không bị lạc hướng.


Khi truyền lại thông điệp đó cho con, cho đồng nghiệp trẻ hay sinh viên, tôi luôn nhấn mạnh rằng bay cao không phải để rời bỏ cội nguồn. Tôi nghĩ rằng tri thức, trải nghiệm quốc tế hay thành công cá nhân sẽ thêm ý nghĩa khi được gắn với gia đình, với xã hội, với những con người đã nuôi dưỡng mình lớn lên. “Quay về” không nhất thiết là quay về một không gian địa lý mà là quay về với những giá trị gốc đã định hình mình. 


Khi còn trẻ, tôi nhìn cội nguồn chủ yếu như gia đình và xuất phát điểm. Càng lớn, càng trải nghiệm, nhất là trong nghề y - nơi sự sống và sự mong manh luôn hiện diện - tôi càng nhận ra cội nguồn là điểm tựa. Cội nguồn lúc này không chỉ là gia đình, mà còn là truyền thống nghề nghiệp, là trách nhiệm với sự sống và là cam kết phụng sự. 

 

20/02/2026 - 06:33
Chia sẻ bài viết:
BẠN CÓ THỂ QUAN TÂM