Ông từng là lính thiết giáp trong thời chiến. Tâm trạng của một người lính trẻ Hà Nội khi ấy thế nào?

Nếu nói đúng không khí thời đó, tinh thần rất rõ ràng: Tất cả đều hăng hái lên đường, hòa vào khí thế chung của cuộc kháng chiến. Đây không phải là sự háo hức kiểu cá nhân mà thanh niên ngày ấy luôn thấy mình phải có trách nhiệm và nghĩa vụ với gia đình, với quê hương, đất nước. Thế hệ của tôi khi ấy, gần như toàn bộ sinh viên, thanh niên Hà Nội đều sẵn sàng lên đường nhập ngũ, trong đó có rất nhiều người đang học dở dang, chỉ vài năm nữa là họ sẽ ra trường, đi làm, lập gia đình… Nhưng vì quê hương, đất nước, bao ước mơ, hoài bão phải gác lại. Họ khi ấy mới 17, 18 tuổi nhưng mỗi ngày phải mang trên người 30kg hành trang, đi vào những nơi khốc liệt nhất của vùng chiến sự.

Tôi khi đang là sinh viên Trường Cao đẳng Mỹ thuật, cũng như bao chàng trai, cô gái Hà Nội khác, đã tình nguyện vào chiến trường miền Nam. Trong ba lô của tôi, ngoài quân trang, lúc nào cũng có một cuốn sổ và bút chì để vẽ. Trên những chặng đường hành quân, bất cứ lúc nào có thể, tôi lại ngồi ký họa những hình ảnh nơi chiến trường để ghi lại những gì đang diễn ra với tôi và đồng đội của mình. Cuối năm 1972, tôi được tăng cường về đơn vị thiết giáp, theo các đơn vị xe tăng từ Cửa Việt, Đông Hà, Gio Linh, Ái Tử, Cam Lộ… rồi lên A Sầu, A Lưới. Đi đến đâu, vẽ đến đó.

Lê Trí Dũng ngày nhập ngũ

Lê Trí Dũng ngày nhập ngũ

Sau chiến tranh, khi nhìn lại, ký ức về đồng đội và những năm tháng ấy có luôn làm ông nhớ?

Không những nhớ, mà còn ảnh hưởng rất sâu. Hằng năm, tôi vẫn cùng đồng đội trở lại những chiến trường cũ như A Sầu, A Lưới, nhưng mỗi lần trở lại là một lần đau lòng. Có những người bạn da dẻ bị tàn phá, có người con cái sinh ra mang dị tật do nhiễm chất độc dioxin, có người đang sống bằng trợ cấp. Những điều đó ám ảnh tôi rất nhiều. Tôi chứng kiến quá nhiều mất mát, nên cảm giác chiến tranh như mới vừa hôm qua.... Khi trở về, tôi đã tìm đến một đời sống tinh thần khác để có được sự cân bằng, để tiếp tục sống và làm việc. Những gì tôi vẽ sau này, dù là đề tài chiến tranh, hòa bình, cuộc sống cũng đều mang theo phần ký ức ấy, chúng vẫn luôn hiện diện.

Ông đã cố gắng để vẽ ký họa, chụp ảnh chiến trường như thế nào khi là một chiến sĩ tăng thiết giáp?

Tôi chỉ là một người lính bình thường, như hàng triệu người lính trong những năm tháng chiến tranh vệ quốc. Những gì tôi và đồng đội trải qua, thực ra chỉ là bước tiếp nối của thế hệ cha anh đi trước. Đó là những chiến sĩ, họa sĩ tiêu biểu như Cổ Tấn Long Châu, Huỳnh Phương Đông, Trang Phượng, Lê Lam… Các anh đã dấn thân, sáng tác những tác phẩm không chỉ là nghệ thuật, mà còn là nguồn động viên tinh thần giữa bom đạn. Đồng bào khắp nơi rất ngóng trông tác phẩm của anh, bởi đó là những nhật ký sống động mà qua đó đồng bào có thể hiểu được những gì đã diễn ra ở chiến trường.

Chiến sĩ tăng thiết giáp Lê Trí Dũng ngày ấy và bây giờ

Chiến sĩ tăng thiết giáp Lê Trí Dũng ngày ấy và bây giờ

Chúng tôi, thế hệ kế tiếp, chỉ đơn giản là tiếp tục con đường ấy: tranh thủ từng khoảnh khắc hiếm hoi giữa chiến trường, khi tiếng súng tạm lắng, để ký họa, ghi chép, giữ lại những gì đang diễn ra trước mắt. Bởi chúng tôi hiểu, có những thứ nếu không kịp ghi lại, thì sẽ vĩnh viễn trôi đi cùng khói lửa. Những bức phác thảo đã ra đời như thế. Từ những nét vẽ ban đầu ấy, về sau tôi tiếp tục hoàn thiện thành những tác phẩm lớn hơn.

Một ngày sau trận bom ác liệt tại trọng điểm, tôi chợt thấy một chiếc xe tăng chồm qua khúc ngoặt dưới ráng chiều đỏ rực của hoàng hôn. Chiếc xe tăng như một con mãnh hổ vượt qua trận mạc một cách oai hùng, tôi vội phác thảo nhanh hình ảnh này bên khói bom và cây rừng còn đang cháy dở… Đây chính là tiền đề cho bức Vượt trọng điểm sau này và hiện đang ở Bảo tàng Mỹ thuật Quốc gia. Điều khiến tôi xúc động và vui mừng là Bảo tàng Mỹ thuật Quốc gia đã sưu tập 4 tác phẩm của tôi.

Ký họa chiến sĩ xe tăng

Ký họa chiến sĩ xe tăng

Bức tranh Vượt trọng điểm sơn mài của họa sĩ Lê Trí Dũng hiện được lưu giữ tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam

Bức tranh Vượt trọng điểm sơn mài của họa sĩ Lê Trí Dũng hiện được lưu giữ tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam

Có rất nhiều người không muốn nhớ những ký ức kinh hoàng của chiến tranh, còn ông vì sao vẫn giữ rất nhiều kỷ vật của bạn bè, cả người sống và người đã mất trên chiến trường, ông có bị ám ảnh không?

Có lẽ tôi giống cha tôi phần nào. Ngày trước, ông có thói quen sưu tầm những món đồ đặc biệt. Còn tôi luôn có một ý thức rất rõ ràng về việc phải giữ lại ký ức của những nơi tuổi trẻ của mình và đồng đội đã đi qua. Đó là những kỷ vật thời chiến, những thứ thuộc về chiến trường nơi máu, mồ hôi, nước mắt, tuổi thanh xuân của mình và đồng đội đã trải qua.

Tôi vẫn nhớ câu hát trong bài Tiếng đàn Ta lư của nhạc sĩ Huy Thục: “Đi chiến trường/Gùi trên vai nặng trĩu”. Tôi cũng từng là một người lính như thế, khi băng qua suối, đi qua Tà Cơn (Quảng Trị), nơi có nhiều viên đá cuội, tôi đã cúi xuống, nhặt vài viên mang về. Những viên đá ấy còn theo tôi tới tận bây giờ. Có lần, tôi nhặt được một chiếc xắc-cốt của lính Mỹ tử trận, mang về giặt lại, bùi ngùi khi thấy trên mũ vẫn còn nguyên vết đạn AK xuyên thủng.

Ký họa trên đường hành quân Tây Huế

Ký họa trên đường hành quân Tây Huế

Hay kỷ niệm từ một chiếc vỏ hộp được làm từ xác máy bay Mỹ, trên đó, anh bộ đội đã dùng mũi dao khắc hình xe tăng và con rồng, chính giữa là 2 chữ “kỷ niệm”, xung quanh là những đường viền trái tim nhỏ, tinh xảo đến bất ngờ. Anh bạn thật khéo tay. Anh hy sinh rồi, còn tôi giữ kỷ vật của anh, giống như anh vẫn còn đang hiện hữu trần gian này.

Bạn bè tôi, sau mỗi trận đánh trở về, cũng thường tặng lại tôi những món đồ lính chiến, vì họ biết tôi sẽ giữ gìn những thứ ấy. Có một kỷ vật đặc biệt là 1 viên đạn rơi ở gần mộ của đồng đội. Tôi nhặt lên, ngậm ngùi, ko biết nó đã bay từ đâu tới, nhưng rơi trước mặt mình, trong một hoàn cảnh thế này…

Nhiều người hỏi tôi rằng giữ lại những kỷ vật từ chiến trường như vậy, tôi có sợ không? Tôi chỉ cười. Nếu sợ, tôi đã không giữ. Tâm tôi trong sáng. Thi thoảng khi có đồng đội tới thăm, chúng tôi ngồi bên nhau, ngắm từng kỷ vật của những người đã khuất mà nhớ thời trai trẻ của mình. Những khoảnh khắc ấy tôi luôn trân trọng.

Mỗi một kỷ vật, là một câu chuyện, và lớp người đi bộ đội khi ấy đã có những tài hoa không còn trở về?

Tôi còn giữ một chiếc cà mèn họa sĩ Hoàng Thượng Lân tặng trong một lần gặp gỡ ở chiến trường. Anh Lân hồi đó đang học dở năm thứ 4 của hệ sơ - trung cấp 7 năm trường Mỹ thuật cùng khóa với tôi và họa sĩ Thành Chương. Anh đã xung phong nhập ngũ và chiến đấu trong một đơn vị đặc biệt, Tiểu đoàn 395, Sư đoàn 320B vào Nam ngay sau 3 tháng huấn luyện, chiến đấu trên mặt trận Quảng Trị khốc liệt.

Các anh nhận nhiệm vụ mà chúng tôi hay gọi là “cơm Bắc giặc Nam”, tức là ban ngày anh ở miền Bắc, ban đêm vượt sông Bến Hải chiến đấu. Chiếc cà mèn này đã theo tôi suốt những năm tháng ở chiến trường. Tôi dùng nó khi thì đựng nước uống, khi làm dụng cụ pha màu vẽ, có lúc lại thành cối giã cua, đựng đủ mọi thứ linh tinh… dùng đến mức thủng cả đáy. Anh Lân hy sinh năm 1971 khi vượt dòng sông Xê-băng-hiêng, một dòng sông chảy ngược nằm tại vùng biên giới phía Tây dãy Trường Sơn. Tôi luôn mang trong mình nỗi thương nhớ anh và gìn giữ kỷ vật như một phần ký ức của mình.

Ký họa liệt sĩ Duyệt

Ký họa liệt sĩ Duyệt

Có một bức ký họa khiến tôi thương nhất, đó là ký họa chân dung chiến sĩ xe tăng, liệt sĩ Nguyễn Kim Duyệt (1951-1975), thuộc Lữ đoàn 203. Duyệt khi ấy là sinh viên năm thứ 2 trường Đại học Nông nghiệp. Nhà anh ở phố Đại La, gần chợ Mơ. Anh Duyệt hy sinh vào ngày 28/4/1975, chỉ 2 ngày trước giờ toàn thắng, khi đang trên đường tiến vào giải phóng Dinh Độc Lập. Nỗi đau ấy thật khó gọi thành lời.

Khi mở chiếc ba lô của anh, mọi người mới òa lên. Trước đó ai cũng không hiểu vì sao anh Duyệt luôn mang chiếc ba lô khá to và nặng, giờ đây khi thấy trong ba lô toàn là từ điển Anh -Việt, mới biết rằng, anh đã rất yêu ngoại ngữ nên lúc nào cũng có cuốn từ điển để học. Anh Duyệt cũng từng nói với đồng đội sẽ học ngoại ngữ và đàn guitar khi nào hòa bình lập lại. Những ước mơ rất giản dị đời thường, nhưng đã dừng lại mãi mãi ở tuổi đôi mươi.

Sau này, hòa bình lập lại, tôi và đồng đội đã đến nghĩa trang Đồng Nai để thăm chàng trai Hà Nội đã nằm lại ở tuổi thanh xuân với bao ước mơ hoài bão dang dở.

Bức ký họa Cuộc tháo chạy tháng Tư

Bức ký họa Cuộc tháo chạy tháng Tư

Cuộc đời ông đã trải qua nhiều cuộc triển lãm, nhưng cuộc triển lãm lưu động trong rừng với những hoàn cảnh khốc liệt, đã diễn ra như thế nào?

Tôi còn nhớ Bác Hồ đã nói “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em hãy là chiến sĩ trên mặt trận ấy”. Trong những năm tháng ấy, điện ảnh có những bộ phim như Mùa nước nổi, Vĩ tuyến 17 ngày và đêm, Chị Tư Hậu... cùng với thơ ca, âm nhạc, hội họa cũng góp phần không nhỏ bởi có những bức tranh tưởng như nhỏ bé, đơn giản, nhưng động viên tinh thần của chiến sĩ, đồng bào rất lớn.

Trong thời chiến, chúng tôi phải tổ chức dưới hình thức lưu động và vận dụng tất cả những gì có sẵn ngay giữa rừng già. Không có khung, không có phòng tranh, nơi treo tranh đôi khi chỉ là giữa 2 thân cây lớn. Chúng tôi lấy dây rừng căng lên, kiếm vài chiếc kẹp sắt để treo những bức ký họa. Khi bộ đội hành quân qua, họ dừng lại, nhìn thấy chính mình và đồng đội qua các tác phẩm. Đồng bào cũng được xem những bức phác thảo, ký họa, bức ảnh chụp vội giữa chiến trường, ai cũng vui và xúc động. Giữa khói lửa, những triển lãm như thế không chỉ là nghệ thuật mà còn là cách để chúng tôi giữ lại niềm tin, giữ lại hình ảnh con người, giữa những ngày tưởng như chỉ toàn bom đạn.

Trong triển lãm gần nhất - Thánh Mã, trưng bày 108 tác phẩm liên quan tới… ngựa, vì sao ông lại… “mê” ngựa tới vậy?

Tôi vẽ khá nhiều, con số 108 có lẽ là ngẫu nhiên thôi, ở nhà còn 400 anh hùng Lương Sơn Bạc để treo nữa. Khi vẽ, dù vô thức hay có tư duy, ngựa của tôi luôn trong trạng thái tung vó, phá phách, muốn bung ra, xổ lồng bay lên. Còn sau này, những chú ngựa vẫn trong trạng thái phi nước đại, nhưng lại có vẻ thanh bình hơn. Nhiều người hỏi tôi, liệu ngựa của tôi có khi nào buồn không. Có chứ. Có một giai đoạn, tôi vẽ những con ngựa ngã xuống, máu me, đầy thương tổn. Nhưng những bức ấy, tôi không bao giờ mang ra triển lãm, chỉ giữ cho riêng mình. Lạ là cứ vẽ xong con nào mang nhiều tâm trạng như vậy, lại có người tìm đến mua hết. Tôi cũng không lý giải được điều đó. Về sau, có lẽ vì ám ảnh, tôi hạn chế vẽ những con ngựa đau thương, chuyển sang vẽ những con ngựa hạnh phúc hơn. Nhưng trớ trêu là, những con ngựa hạnh phúc ấy lại khó bán hơn.

Sinh ra trong một gia đình có truyền thống nghệ thuật, với cha là họa sĩ Lê Tấn Lộc, ông có chịu ảnh hưởng từ cha mình nhiều không?

Vấn đề không nằm ở chuyện cha tôi có trực tiếp dạy tôi vẽ hay không để mà ảnh hưởng. Chúng tôi gần như không có khái niệm “được dạy” theo nghĩa thông thường. Từ năm 6 tuổi, tôi đã lao vào làm việc, bắt đầu từ những công đoạn đơn giản nhất của nghề sơn mài. Cha tôi làm tranh sơn mài, mà ai biết nghề này đều hiểu, riêng khâu mài phá đã là một quá trình lao động cực nhọc.

Trong gia đình tôi, trẻ con là phải làm lụng giúp đỡ gia đình, cho nên tôi phải làm việc từ rất sớm. Có thể nói, tôi bắt đầu như một người thợ phụ cha mình trong lĩnh vực sơn mài hơn là một đứa trẻ học vẽ. Từ 6 đến khoảng 16 tuổi, công việc chủ yếu là “toát tranh”, mài, làm nền… toàn là lao động “cơ bắp”, cực lắm, mồ hôi đổ ra không ít. Khi ấy, tôi chẳng bao giờ nghĩ mình đang làm nghệ thuật gì cao siêu, đơn giản chỉ là làm để giúp gia đình, để trong nhà có cái ăn.

Cha tôi là người rất nghiêm khắc, ít nói nhưng giàu tình cảm. Trong suốt thời thơ ấu và cả khi trưởng thành, giữa 2 cha con gần như không có những cuộc trò chuyện theo kiểu tâm sự, chỉ bảo. Không có chuyện “bố ơi, con nên làm thế nào”, hay “bố khuyên con điều này”. Chúng tôi sống cạnh nhau, lặng lẽ hiểu nhau. Ông mất rồi, nhìn lại, tôi vẫn thấy giữa 2 cha con là một khoảng lặng rất đặc biệt.

Gia đình tôi khá đông người, cha tôi có 6 người con, lại sống chung nhiều thế hệ. Việc tôi theo con đường mỹ thuật cũng gần như là điều hiển nhiên, không có lựa chọn nào khác. Đến tuổi là đi học trường Mỹ thuật, như một lẽ tự nhiên. Hồi đó là hệ sơ trung 7 năm, tôi vào học khi còn rất nhỏ, khoảng 12 tuổi đã bước vào giai đoạn đào tạo chuyên nghiệp, thuộc hệ dành cho con em trong ngành ở trường Mỹ Thuật 42 Yết Kiêu.

Cha tôi sống giản dị và kỷ luật. Ông không rượu chè, thuốc lá, ăn uống đạm bạc, không có nhu cầu tiêu xài gì lớn. Nếu có niềm vui, thì là đi tìm mua những món đồ cổ, một thú chơi mà sau này chúng tôi cũng “thừa hưởng”. Nhưng thực ra, đó không phải là sự sưu tầm theo nghĩa vật chất, mà là để tìm cảm hứng như một mảnh gốm cũ, một pho tượng tróc sơn…

Điều tôi nhớ nhất ở ông là tinh thần lao động. Ông vẽ ngày, vẽ đêm, gần như không ngừng nghỉ. Nếu có một danh hiệu nào đó, tôi nghĩ ông xứng đáng được gọi là “anh hùng lao động” trong chính đời sống của mình. Và cái nếp ấy, dường như cũng truyền sang chúng tôi: muốn có cái ăn, thì phải làm việc, rất đơn giản vậy thôi.

Trong năm 2026 này, ông đã rất nổi tiếng với triển lãm Thánh Mã thu hút đông đảo công chúng yêu nghệ thuật.

Vì sao lại là Thánh Mã, và ông là một “lão chăn ngựa”?

Thánh Mã

Thánh Mã

Từ thuở nhỏ, tôi đã được nghe rất nhiều về sự tích Thánh Gióng. Một vị thánh là cậu bé của một bà mẹ nghèo trong làng quê Bắc bộ, bỗng vụt lớn lên trở thành một vị tướng oai hùng đánh giặc ngoại xâm, rồi không màng danh lợi của cải, Thánh Gióng đã phi ngựa sắt bay lên trời. Lúc ấy trong trí tưởng tượng của tôi, còn hình ảnh nào đẹp hơn hình ảnh ấy. Tôi rất khâm phục và yêu thích hình tượng Thánh Gióng, mà ngài là thánh thì con ngựa ngài cưỡi cũng phải là Thánh - Thánh Mã.

Cái tên “lão chăn ngựa” thực ra không phải do tôi tự nhận, mà do người xem gọi dần thành quen. Tôi vẽ ngựa quá nhiều, vẽ suốt nhiều năm, từ những con ngựa dữ dội, tung vó, đến những con ngựa trầm tĩnh hơn. Vẽ nhiều đến mức, người ta có cảm giác như tôi “chăn” cả một đàn ngựa trên tranh vậy. Nhưng nói cho đúng, tôi không chăn ngựa, mà là đi theo nó, đi theo những chuyển động, tâm trạng và cả số phận của nó, cũng như đi theo chính mình.

Vì sao ngựa trong tác phẩm của ông thường ở trạng thái hoạt động, ở yên ngựa thường có nhiều họa tiết hoa văn mang biểu trưng của văn hóa dân tộc thiểu số?

Trước đây, có cháu sinh viên hỏi tôi: trong con ngựa, bộ phận nào là “xấu” nhất. Tôi cũng hơi bất ngờ, nên hỏi lại: theo cậu, bộ phận nào của con ngựa là đẹp nhất? Thường người ta sẽ nói là bờm ngựa phải không? Đúng vậy, vì nếu bỏ bờm đi, con ngựa sẽ không khác gì bò hay dê nữa. Bờm chính là nơi thể hiện vẻ đẹp, cho nên khi vẽ, tôi luôn cách điệu, làm cho nó bay lên để miêu tả trạng thái con ngựa. Còn nếu nói phần “kém đẹp”, có lẽ là phần bụng. Vì thế, với một họa sĩ, việc “che” hay “nhấn” chi tiết là một lựa chọn có ý thức. Và để xử lý phần bụng, tự nhiên xuất hiện một giải pháp: cái yên ngựa. Nhưng cái yên không chỉ để che. Nó trở thành một “tấm áo” khoác lên con ngựa.

Nhiều người cho rằng phải vẽ ngựa hoang mới thể hiện được sự phóng túng. Tôi thì nghĩ khác. Khi con ngựa đang tự do, nó không cần phải chứng minh điều đó. Chỉ khi bị mất tự do, nó mới tung vó, mới phá phách để giành lại. Vì thế, trong tranh, có lúc tôi vẽ những chiếc yên, dây cương bị hất tung, đó là lúc con ngựa đi tìm tự do. Nhưng khi con ngựa trở lại trạng thái cân bằng, cái yên lại xuất hiện, như một lớp văn hóa phủ lên nó. Chính trên cái yên ấy, tôi đưa vào các họa tiết thổ cẩm, hoa văn dân tộc. Nó không chỉ có chức năng tạo hình, mà còn là nơi biểu đạt bản sắc. Con ngựa trong tranh tôi vì thế không phải là ngựa chung chung, mà là một con ngựa mang dấu ấn văn hóa Việt Nam.

Tôi nghiên cứu nhiều về ngựa, từ ngựa phương Tây đến Trung Hoa nhưng khi vẽ, điều quan trọng là phải ra được chất Việt. Hội họa truyền thống của ta vốn đã có 3 dòng lớn trước khi chịu ảnh hưởng phương Tây: tranh Đông Hồ, Hàng Trống và Kim Hoàng. Nếu như Đông Hồ mộc mạc, Hàng Trống tinh vi, thì Kim Hoàng là sự dung hòa giữa 2 dòng ấy. Trong tranh của tôi, có sự kết hợp tinh thần của cả 3 dòng ấy.

Tác phẩm ngựa nào có ý nghĩa nhất với ông, tác phẩm nào ông thích nhất khi vẽ về ngựa?

Chú ngựa ý nghĩa nhất, có lẽ là chú ngựa tôi đã vẽ tặng con trai mình, sau khi cậu bé sinh ra “lành lặn”. Vì tôi là một trong số những người lính đã chiến đấu ở vùng Mỹ rải thảm chất độc dioxin, và tôi rất lo sợ con mình sinh ra bị ảnh hưởng của chất độc ấy. Thật may, khi con trai ra đời, thấy con lành lặn, “đẹp trai”, hoàn toàn mạnh khỏe. Tôi thấy mình vô cùng hạnh phúc và biết ơn tổ tiên ông bà đã phù hộ độ trì, nên tôi vẽ một tác phẩm có chú ngựa với phong cách thật bình yên để kỷ niệm cậu con tuổi ngựa của tôi.

Với các bạn nhỏ

Với các bạn nhỏ

Còn nếu hỏi tôi ưng tác phẩm nào thì tôi vô cùng thích bức tranh con ngựa đơn. Đó là một con ngựa đơn độc, đang bay về phía trước, đầu hơi ngẩng lên. Bức tranh này thể hiện rõ lối vẽ Á Đông, giản dị, thoải mái, không sa đà vào tả thực mà tập trung vào thần thái, giống tính cách của tôi, đơn giản, trực diện. Nói một cách nào đó, con ngựa ấy cũng chính là tôi.

Xin chân thành cảm ơn ông!

với họa sĩ Thành Chương

với họa sĩ Thành Chương

30/04/2026 - 14:20
Chia sẻ bài viết:
BẠN CÓ THỂ QUAN TÂM