Từ hàng trăm năm trước, tư duy và tầm nhìn của dân tộc Việt Nam đã hướng ra biển lớn. Không chỉ sở hữu dải đất hình chữ S mà ông cha ta còn đặt cột mốc chủ quyền đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đây chính là “núm ruột” của non sông nước Việt trong một khối thống nhất.
Về nguồn gốc của Hoàng Sa và Trường Sa, nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu cho biết: “Người Bồ Đào Nha bắt đầu thám hiểm đường bờ biển Việt Nam năm 1523. Khi đó, Diogo Ribeiro thấy một vùng có rất nhiều đảo san hô và bãi đá ngầm ngoài khơi bờ biển cực kỳ nguy hiểm cho thuyền bè đi lại. Ông thăm dò và phác thảo quần đảo này với 3 bản đồ vào các năm: 1525, 1527, 1529. Ông đặt tên quần đảo này là Pracel (có nghĩa đá ngầm) và là quần đảo của nước Giao Chỉ, tức Việt Nam ta. Một số bản đồ ở phương Tây cũng vẽ theo Diogo Ribeiro, chỉ khác là ghi Pracel thành Parcel hay Paracel. Cuối thế kỷ XIX, người Đức và người Anh mới phát hiện đây là 2 phần đảo cách nhau khá xa. Quần đảo phía bắc (Hoàng Sa) gọi là Paracel và quần đảo phía nam (Trường Sa) gọi là Spratly để tưởng nhớ thuyền trưởng Richard Spratly (1806-1866) vì đã có công phát hiện các quần đảo ở Biển Đông”.
Về quần đảo Hoàng Sa, trong bộ sách Phủ biên tạp lục (1776) Lê Quý Đôn có ghi: “Phủ Quảng Ngãi, huyện Bình Sơn có xã An Vĩnh ở gần biển. Ngoài biển về phía đông bắc có nhiều cù lao, các núi linh tinh hơn 130 ngọn, cách nhau bằng biển, từ hòn này sang hòn kia hoặc đi một ngày hoặc vài canh thì đến. Trên núi có chỗ có suối nước ngọt. Trên đảo có bãi cát vàng dài, ước hơn 30 dặm, bằng phẳng rộng lớn, nước trong suốt đáy. Bên đảo có vô số yến sào; các thứ chim có hàng nghìn hàng vạn, thấy người thì đậu vòng quanh không tránh.
Các thuyền ngoài phiên bị bão thường đậu ở đảo này. Trước họ Nguyễn đặt đội Hoàng Sa 70 suất, lấy người xã An Vĩnh sung vào, cắt phiên mỗi năm cứ tháng Hai nhận giấy sai đi, mang lương đủ ăn 6 tháng, đi bằng 5 chiếc thuyền câu nhỏ, ra biển 3 ngày 3 đêm thì đến đảo ấy”.
Tượng đài Quốc công tiết chế Hưng đạo đại vương Trần Quốc Tuấn trên đảo Song Tử Tây
Năm 1832, Lý Văn Phức đi tàu sang Phi Luật Tân (Philippines) suýt bị mắc cạn tại Hoàng Sa. Ông đã viết lời tựa trong bài thơ Vọng kiến Vạn Lý Trường Sa: “Vạn Lý Trường Sa là một dải cát trắng nhô lên từ giữa biển, phía tây giáp biển Quảng Ngãi, phía đông giáp biển Lã Tống (Philippines), bắc giáp vùng biển 2 tỉnh Quảng Đông và Phúc Kiến, kéo dài hàng vạn dặm, chiều ngang thì không biết bao nhiêu. Cho nên từ xưa đến nay nó được mệnh danh là xứ tuyệt hiểm. Thuyền bè qua lại, khi đến đây thường coi chỗ không nhìn thấy được làm mốc giới, có lẽ là chân bãi cát đó xa lắm, một khi đi lầm đường thì không sao quay lại chỗ cũ được. Ngày 14/5 thuyền đi từ Quảng Ngãi, đến góc phía tây của trấn Bình Định, tính toán không sai phân kim theo hướng Mão Ất (đông, hơi xế nam) mà đi, nào ngờ gió thổi ngược, nước nổi cuồn cuộn, thuyền đi theo đường không thể tiến lên phía trước được. Đến trưa ngày hôm sau, bỗng nhìn thấy một dải cát lờ mờ, sắc trắng tới tận chân trời, mọi người trên thuyền trong lòng xốn xang, mắt chớp liên hồi, vội chuyển buồm theo hướng Dậu (tây) trở về lại Quảng Ngãi, đậu thuyền ở Cần Tảo, may được vô sự”.
Ngoài ra còn có rất nhiều ghi chép, bản đồ của người nước ngoài về Hoàng Sa và Trường Sa, các văn bản của triều Nguyễn, các bộ sử đương thời như Hoàng Việt địa dư chí (1833), Đại Nam thực lục tiền biên (1844), Đại Nam thực lục chính biên (1848), Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ (1851)… Bên cạnh đó, chủ quyền về 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa còn được thể hiện rõ nét qua lễ khao lề thế lính Hoàng Sa, được tổ chức vào 20/2 âm lịch hằng năm. Năm 2013, nghi lễ này được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
Người dân đảo Trường Sa chụp ảnh cùng ca sĩ Nguyễn Phi Hùng nhân dịp đoàn công tác số 9 của TPHCM ra thăm Trường Sa vào tháng 5/2022
Một mùa xuân mới lại đến, lần nữa, chúng ta cùng nhau nhắc về Hoàng Sa, Trường Sa - “núm ruột” của non sông nước Việt. “Núm ruột” ấy từ cội nguồn dựng nước và giữ nước luôn được bảo vệ, không ai có thể xâm phạm. Để rồi giờ đây, mỗi khi đến với Trường Sa, giữa điệp trùng sóng vỗ, chúng ta lại nghe vọng về bài Thơ thần của Lý Thường Kiệt. Đứng trước biển, các văn nghệ sĩ đã có rất nhiều cảm xúc về Trường Sa. “Khi hòn đảo đầu tiên hiện ra, Hương reo to. Mọi người tràn ra boong. Tim Hạ đập mạnh. Lòng chị lâng lâng bồi hồi như gặp lại người thân. Có lẽ không chỉ riêng Hạ. Ai cũng nôn nao. Ai cũng muốn mình là người đầu tiên được chạm vào núm ruột cách đất liền bởi trùng trùng sóng gió… Hòn đảo nhô lên mặt biển, xa xa trông giống một cụ rùa cõng chiếc ba lô kềnh càng trên lưng, đến gần thì như một pháo đài vững chãi. Các chiến sĩ ra đón đoàn. Trong bộ quân phục, trông ai cũng trẻ, khỏe, rạng ngời” - nhà văn Bích Ngân - Chủ tịch Hội Nhà văn TPHCM - tâm tình.
Từng bông hoa tươi thắm, luống rau xanh, cây bàng vuông, từng ngôi chùa, trường học ở Trường Sa, Hoàng Sa cũng góp phần khẳng định chủ quyền thiêng liêng của Việt Nam đối với 2 quần đảo này.
Ngay cả vỏ ốc ở nơi này cũng là sợi dây kết nối giữa đất liền và biển đảo: “Anh gửi về em những vỏ ốc biển từ Trường Sa, đảo xa/ Trường Sa, đảo xa, xa xôi lắm/ Nhưng em yêu ơi, em vẫn thật gần/ Khi em nhận, em hãy áp tai vào lòng ốc biển/ Em hãy lắng nghe tiếng sóng vỗ dạt dào…” (Vỏ ốc biển - nhạc sĩ Thế Hiển). Với tình yêu dành cho biển đảo, vượt qua mọi khoảng cách, nhà báo Lưu Đình Triều khẳng định Tổ quốc luôn gần lắm, ngay trong ý thức mỗi công dân qua tập truyện ký Tổ quốc không có nơi xa (Nhà xuất bản Trẻ, 2011).
Từ lời răn của cha ông: “Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác” (vua Trần Nhân Tông, 1258-1308), “Ta phải giữ gìn cho cẩn thận, đừng để ai lấy mất một phân núi, một tấc sông do vua Thái Tổ để lại” (vua Lê Thánh Tông, 1442-1497), cất lên tiếng lòng da diết:


