Menu

Về quê

17:17 18/08/2019

pno
Ngày dì Câu bỏ làng tha phương, cái chòi (hay nhà) ấy đã được dì kêu bán nhưng người ta chê quá hẹp, không ai muốn mua, còn hỏi: “Cảnh quê nhà mấy chục mét vuông không sân không vườn sao gọi là nhà?”

Không ai nghĩ dì Câu lại về. Dì về đúng dịp Quốc khánh 2/9, nách theo thằng cu Bợm. Người ta bàn tán rộn chợ. Cũng phải, dì Câu tha phương lâu, lập nghiệp tận miền trong, cứ tưởng đã ấm chỗ yên nơi sao tự dưng giờ lại nghĩ chuyện hồi đầu cố xứ? Có người trêu: “Bị… đuổi về hay sao?”, dì Câu cãi: “Đuổi đâu mà đuổi. Già rồi, nhớ chốn cũ thì đùm túm mà về. Vậy thôi...”. 

Thực tình, chuyện người bàn ra tán vô cũng còn một căn nguyên khác. Ấy là… anh cu Bợm. Dì Câu xa quê lâu. Chuyện dì ly hôn xóm giềng có nghe loáng thoáng nhưng con cái ra sao thì mù tịt. Phụ nữ chia tay chồng một mình nuôi con chẳng lạ. Lạ ở chỗ thằng nhỏ nhìn giống… ai đâu; chẳng “bà con chi” với chồng cũ lại càng chẳng giống dì Câu. Người nhiễu sự theo dì gặng đi gặng lại: “Nó con ai?”, dì Câu cứ một hai cười khì: “Thì… con tui chớ con ai, chẳng lẽ tui thừa cơm đi nuôi con người khác? Hỏi gì kỳ!”.

Về quê. Vẫn căn nhà xập xệ đầu đuôi tròm trèm hơn hai chục mét vuông do cha mẹ dì để lại. Nhìn qua, nó… hơi lớn nếu gọi là chòi nhưng lại quá nhỏ để làm một căn nhà đúng nghĩa. Ngày dì Câu bỏ làng tha phương, cái chòi (hay nhà) ấy đã được dì kêu bán nhưng người ta chê quá hẹp, không ai muốn mua, còn hỏi: “Cảnh quê nhà mấy chục mét vuông không sân không vườn sao gọi là nhà?”. Rủi hóa may, nhờ bán không ai mua mà giờ dì Câu về làng còn có nơi chui đụt. Quê đang phố hóa, đất mặt lộ ầm ầm lên giá, cái nhà/chòi bé tẻo của dì Câu may sao rơi trúng mặt lộ. Ông chủ đất “đại gia” liền kề muốn mở rộng mặt tiền lập tức chạy qua. Ông hứa trả cho dì Câu cái giá “trong mơ”, dư sức mua miếng đất lớn nằm sâu trong xóm. Dì Câu lắc. Dì bảo: “Già rồi, quen cảnh cũ, không muốn dời đổi lôi thôi…”.

***

Nghe mẹ kể hồi còn con gái, dì Câu bóng bẩy như hoa khôi… cấp xóm. Đã đẹp gái lại còn biết hát cải lương, vậy nên dì mới có cơ may bỏ chốn đồng chua nước phèn quanh năm hết nắng táp tới mưa chan để theo nghiệp cầm ca. Dì chuyên đóng vai nữ phụ của đoàn cải lương Hoa Lúa. Đoàn Hoa Lúa do ông bầu Quốc Sinh quê gốc miền Tây sáng lập. Sinh trong cái nôi đờn ca tài tử, đương nhiên ông bầu Sinh biết cách dẫn dắt đoàn sao cho hát hò ngày càng có tiếng tăm. Nổi trôi lưu diễn cùng khắp Bắc Nam; một chuyến dừng chân Tuy Hòa, cô thôn nữ Câu xinh đẹp mê hát ca đã tình cờ lọt vào mắt xanh ông bầu trưởng đoàn hào hoa lãng tử. Yêu và cưới; tốc hành đâu chỉ nửa tháng trước khi đoàn lại nhổ neo Nam tiến.

Ve que

Cuộc nhân duyên ấy gia đình dì Câu hết sức can ngăn bởi “xướng ca vô loài, tin sao nổi mấy thằng bầu gánh hát!”... Vô ích. Chưa yêu thì còn nói năng phải trái chớ yêu rồi là… xong phim. Còn nữa, đâu phải dì Câu mê ông bầu thôi đâu, dì còn mê… gánh hát. Mà khổ chưa, máu mê cái món thứ hai so với món đầu cũng không hề kém cạnh. So với cảnh sống buồn thiu nơi quê - ngày ngày sấp mặt xuống bùn, sập tối lo đóng cửa cài then - thì ánh đèn sân khấu đêm đêm quả có sức hút khiến dì Câu không sao cưỡng nổi. Đáp từ những can ngăn thống thiết, dì Câu “kiên định lập trường”: cho dù đi theo đoàn hát chỉ để gánh nước chẻ củi hoặc… kéo màn dì cũng cam lòng.

May thay dì Câu được cái nhan sắc trời cho nên không đến mức phải gánh nước chẻ củi hoặc kéo màn. Nhưng chất giọng của dì chưa đủ ngọt để lên hàng đào chính nên suốt những tháng năm theo đoàn, dì chuyên đóng vai phụ. Không sao, với dì vậy cũng đủ mãn nguyện nếu không tính tới yếu tố rày đây mai đó lang bạt xứ người khiến lâu lâu trong dì lại trồi lên cơn quay quắt nhớ quê. Ông bầu gánh hiểu tâm tư vợ nên vài ba tháng lại đưa quân vượt đèo Cả loanh quanh núi Nhạn sông Đà lưu diễn cho vợ có dịp về lại chốn chôn nhau, bớt nhớ nhung cảnh cũ người xưa. Ấy là nói lúc cặp đôi bầu gánh - diễn viên còn mặn nồng ân ái… 

***

Tình già dễ nhạt, ra vô đụng mặt nhau miết tất sinh nhàm. Chưa kể tháng năm bao giờ cũng rất dửng dưng trong nỗ lực làm mai một cái xuân thì - đặc biệt là xuân thì của những cô đào hát. Giờ thì dì Câu bắt đầu nghiệm ra câu nói của người thân (tin sao nổi mấy thằng bầu gánh!) không phải là không có lý. Ông bầu Sinh, chồng dì, không chỉ hào hoa mà còn thêm cái chất… trăng hoa có hạng. Nghe nói trước dì, ông đã dan díu với hàng tá đàn bà. Tới lúc gặp dì, chắc nhân duyên lớn nên chàng mới rửa tay gác kiếm, chịu kết tóc se tơ mà (toan) làm một người đàn ông đàng hoàng. Lời hứa trượng phu được ông bầu giữ gìn hơn nửa thập niên không đến nỗi nào; cho đến khi nó bắt đầu có dấu hiệu… xuống cấp. Ai đó nói: lời hứa của đàn ông thường có cánh. Đã có cánh, cho dù nó không muốn tự bay cũng dễ bị gió thổi bay. Với ông bầu Sinh, “gió” ấy chính là cô đào Liên. Liên trẻ hơn dì Câu, non nửa giáp. Cũng xinh đẹp, hát hay. Cũng mê nghiệp xướng ca đến điên cuồng, không kém cạnh là bao so với dì Câu thuở trước.

***

Tôi quyết định bỏ đoàn, chia tay với anh vì không chịu nổi cảnh vợ chạ chồng chung. Người ta bảo “xướng ca vô loài”, câu nói ấy theo tôi hơi nghiệt ngã. Tình yêu anh dành cho tôi là có thật. Và công bình, nó cũng không hề mất đi khi anh có thêm người đàn bà khác. Không phải anh không còn yêu tôi, cũng không phải tôi không còn yêu anh. Đơn giản là tôi không chịu nổi cảm giác con tim và cả thân xác người mình yêu bị một người phụ nữ khác chia sẻ. Ở anh cái gì cũng tốt. Anh chỉ “hư” mỗi chuyện này; lại nhằm ngay cái chuyện “sống chết”, không thể nào cho qua. “Nghệ sĩ là giống đa tình”, lại một câu ai đó nói. Vậy thôi, cứ để anh đi con đường của anh. Tự tại tự do. Khỏi bị ràng buộc…

Níu tôi không được, anh vẫn giữ gìn phong độ trượng phu: tặng tôi căn nhà nhỏ từng là tổ ấm do hai vợ chồng chung tay xây dựng ở quê anh: “Nhà giờ là của em. Nếu thích, em cứ ở đây. Bằng không, em bán lấy tiền mà về quê…”.

Quê ư? Tôi còn mặt mũi nào mà về…

***

-  Về xứ đi con, không đâu bằng quê, nhất là lúc tuổi già. 

- Mẹ muốn… đuổi con? 

- Không, không phải mẹ đuổi, đừng nghĩ bậy. 

- Vậy sao mẹ không cho con sống gần mẹ, cứ xúi con về quê? Con không còn là con dâu của mẹ sao? 

- Vì con là đứa con dâu mẹ quý mẹ thương nên mẹ mới khuyên. Mẹ sợ con chọn sai rồi lại khổ về già. Như mẹ…

Giờ thì tôi hiểu. Mẹ cũng không phải người bản xứ miền Tây. Quê mẹ biền biệt mãi tận đâu xứ Quảng. Cũng vì mê giọng hát ngón đàn của bố chồng tôi mà bà trôi giạt vô Nam. Hai kiếp đàn bà sao quá đỗi giống nhau. Mẹ kể rằng bố chồng tôi cũng một thời lãng tử hào hoa (hay trăng hoa) oanh liệt; có vợ con rồi vẫn cứ đa mang. Đời mẹ là một chuỗi dài những năm tháng ôm con đợi chồng. Không muốn con mồ côi thì đành cắn răng chịu đựng. Cho con còn có cha - dẫu là một người cha không trọn vẹn. Đứa con ấy chính là anh…

Lịch sử đã lặp lại, giống đại cương nhưng khác về tiểu tiết. Tiểu tiết ấy chính là việc tôi không có con. Bác sĩ bảo tôi không thể có con. Tử cung tôi bị dị tật bẩm sinh. “Em đừng băn khoăn. Anh không sao. Nếu số trời đã định thì đành…”, anh, như lệ thường, vẫn giữ thái độ rất chi “đàn ông”, rộng lượng. Tôi hiểu vì sao những người đàn bà trên các nẻo đường anh qua cứ như con thiêu thân đắm đuối lao vào anh xin chết. Tôi hiểu vì sao mẹ tuy không ngớt mắng chửi anh về tội nọ tội kia vẫn yêu thương anh tới mức quên cả bản thân mình.

- Mẹ cam chịu cảnh ly hương, chấp nhận một mai gửi nắm xương tàn nơi xứ lạ vì nó, cái thằng hư đốn ấy. “Con dại cái mang”; tội của nó là tội của mẹ bởi mẹ biết sinh mà không biết dạy con. Nhưng con hiểu cho, mẹ còn sống được nơi đất khách tới hôm nay là nhờ nó…

Mẹ muốn thay anh tạ lỗi cùng tôi, tôi hiểu. Nhưng chuyện đó giờ đâu quan trọng. Quan trọng là tôi đã hiểu vì sao mẹ cứ nhất mực khuyên tôi về xứ. Cho dù tôi biết, tôi đi, mình mẹ ở lại chịu đựng nỗi cô đơn cũng không phải dễ dàng gì…

***

Dì Câu bỏ tiền sửa sang… chính xác là dỡ ra cất mới căn nhà trên rẻo đất cũ. Nhà tầng kiên cố: tầng trên để ở; tầng dưới dì mở quán cà phê cóc kiêm ăn sáng bình dân. Giờ thì không ai dám chê nó hẹp bởi dì còn bày “ăn gian” mấy bộ bàn ghế ra đoạn vỉa hè ít người lại qua. 

- Tiền đâu dì làm dữ? 

- Tiền tao bán nhà trong nớ chớ đâu. Phải tính đường làm ăn chớ mầy; ngồi không lấy gì nuôi con, nuôi miệng.

Quán dì Câu buôn bán được nhờ lợi thế mặt đường, giá cả bình dân. “Đặc sản” là bà chủ quán xinh gái, hát hay. Phải rồi; lâu lâu hứng lên dì Câu cũng sẵn sàng “khuyến mãi” mấy vị thượng đế ủng hộ quán một trích đoạn cải lương mùi mẫn. Không thiếu khách đàn ông sồn sồn chết mê chết mệt, “trồng cây si” quán dì, còn thậm thụt thả lời ong bướm. Dì Câu lắc đầu khắp lượt. Dì mềm mỏng nhưng ông nào có dấu hiệu chớt nhả, sàm sỡ vô duyên là dì đuổi thẳng.

“Tao hát để đỡ nhớ nghề, đâu phải để “dụ” mấy thằng chả…”, dì vừa tâm sự vừa cười toe. Cười xong dì lại đột ngột rũ buồn: “Mày biết tao xa ánh đèn sân khấu bao lâu rồi không? Từ lúc tao với ảnh chia tay. Vậy nhưng đã mang lấy nghiệp vào thân nên bị nó ám. Y như… ma ám, mầy tin không? Đó là tao chỉ mới chân “đào phụ” thôi, chưa được chính danh chính phận với nghề…”.

***

Thôn lập đội văn nghệ, tập tành chuẩn bị tham gia hội diễn quần chúng nhân mấy ngày lễ lớn. Tập cọc cạch cọc cà bởi đám “diễn viên” chân đất dính phèn xưa nay chỉ quen hát… karaoke. Vũ điệu thì, ôi thôi, lại càng “tay ngang” nên cần tìm gấp cho ra một người hướng dẫn có “nghiệp vụ”. Có người nhắc: bà Câu đó! Ông phó thôn lo phong trào vỗ đùi đánh đét: “Đúng rồi, bà Câu. Nhưng bà ấy là… đào hát, diễn viên thứ thiệt, biết có thèm quan tâm cái đội văn nghệ cấp xóm của mình không?”. “Kệ, cứ thử đi, mất gì đâu”. Thì thử. 

Dì Câu vui vẻ nhận lời ngay, còn gạt đi khi ông phó thôn cứ băn khoăn xin lỗi về khoản thù lao ít ỏi do thôn không có nhiều kinh phí: “Tui làm “công quả” cho thôn; chứ muốn kiếm tiền thì tui đâu thiếu chuyện kiếm ra tiền gấp ba”. 

Khách ra về, tôi trêu dì: “Mời đi diễn tập hát hò là gãi đúng chỗ ngứa của dì, mừng vấp té còn làm bộ “công quả” nọ kia”. Dì Câu khoặm mặt, lườm tôi: “Tự nhiên ai khảo mà mầy xưng? Người ta biết múa hát là nghề của tao nên mới chọn mặt gửi vàng, chớ sao… như mầy họ chẳng thèm kêu?”…

Hội diễn năm đó thôn tôi giành giải nhất.

***

Tôi cũng là đứa ham múa hát nên hay kiếm cớ lân la gần gũi dì Câu để học lỏm nghề. Dì Câu, chắc khoái máu văn nghệ của tôi, lúc rảnh lại tận tình chỉ bảo: “Giọng mầy ngọt, diễn xuất tốt, mai mốt chắc khá hơn dì”. “Trời, sao con hơn dì được; cầu cho bằng dì đã mừng…” - tôi nghe sướng rơn nhưng vẫn làm bộ khiêm tốn. “Không được, học nghệ muốn tiến xa thì phải biết nuôi khát vọng. Mầy mà có tư tưởng lôm côm là tao… cắt, khỏi truyền nghề”. Lần này tôi không dám giỡn, thành tâm thành ý “bái sư” đàng hoàng. Dì Câu nhiệt thành truyền hết mọi ngón nghề cho tôi không chút giấu giếm. 

Đêm. Tôi ngủ lại nhà, dì ôm tôi, thủ thỉ: “Dì không có con gái nên coi mầy như con. Mầy biết không, đời nghệ sĩ, không gì hạnh phúc hơn là tìm ra đứa học trò như ý để truyền nghề, truyền đam mê, tâm huyết…”.

- Sao hồi còn ở chung với dượng dì không sinh thêm bé gái? 

Giọng dì Câu chùng xuống:

- Đâu phải dì không muốn mà là… không thể. Dì bị vô sinh, tử cung dị tật.

- Trời, vậy còn… thằng cu Bợm?

- Nó là con nuôi, không phải do dì sinh ra. Cha mẹ nó cũng người miền Trung, vô Nam lập nghiệp mới hai năm. Tai nạn giao thông, vợ chồng họ đều mất mạng... Nè, mà chuyện ấy tao kể mình mầy biết thôi, cấm hở môi với bất cứ ai nghe chưa. Luôn cả với thằng cu Bợm... 

Y Nguyên